Tăng cường xây dựng chế độ ăn dinh dưỡng hợp lý giúp nâng cao chất lượng nuôi dưỡng trẻ suy dinh dưỡng, thừa cân, béo phì trong trường mầm non có hiệu quảt
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tăng cường xây dựng chế độ ăn dinh dưỡng hợp lý giúp nâng cao chất lượng nuôi dưỡng trẻ suy dinh dưỡng, thừa cân, béo phì trong trường mầm non có hiệu quảt", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
tang_cuong_xay_dung_che_do_an_dinh_duong_hop_ly_giup_nang_ca.doc
Nội dung tài liệu: Tăng cường xây dựng chế độ ăn dinh dưỡng hợp lý giúp nâng cao chất lượng nuôi dưỡng trẻ suy dinh dưỡng, thừa cân, béo phì trong trường mầm non có hiệu quảt
- UBND QUẬN HỒNG BÀNG TRƯỜNG MẦM NON MINH KHAI BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN “Tăng cường xây dựng chế độ dinh dưỡng hợp lý giúp nâng cao chất lượng nuôi dưỡng trẻ suy dinh dưỡng, thừa cân, béo phì trong trường mầm non có hiệu quả” Tác giả: Đoàn Thị Thúy Mai - Hệu trưởng Nguyễn Thị Thanh Mai - Phó Hiệu trưởng Đơn vị công tác: Trường Mầm non Minh Khai - HB - HP Tháng 1/ 2023
- CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN Năm học 2022 - 2023 Kính gửi: Hội đồng khoa học và Công nghệ Quận Hồng Bàng Họ và tên: Nguyễn Thị Thanh Mai Ngày sinh: 12/01/1979 Chức vụ, đơn vị công tác: Phó Hiệu trưởng - Trường Mầm non Minh Khai Tên sáng kiến:“Tăng cường xây dựng chế độ dinh dưỡng hợp lý, giúp nâng cao chất lượng nuôi dưỡng trẻ suy dinh dưỡng, thừa cân, béo phì trong trường mầm non có hiệu quả” Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Quản lý chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ. 1. Đồng tác giả: Họ và tên: Đoàn Thị Thúy Mai Ngày sinh: 12/02/1969 Chức vụ, đơn vị công tác: Hiệu trưởng - Trường Mầm non Minh Khai 2. Đơn vị áp dụng sáng kiến: Tên đơn vị: Trường Mầm non Minh Khai Địa chỉ: Số 24, Lý Tự Trọng, Minh Khai, Hồng Bàng, Hải Phòng. Điện thoại: 0982 194 998 - 0905 564 668 I. Mô tả giải pháp đã biết: * Giải pháp đã biết thứ nhất: “Một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng bữa ăn bán trú cho trẻ trong trường mầm non” của tác giả Phạm Thị Lệ Thuỷ trường mầm non Gia Khánh huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc * Ưu điểm: Thực hiện tốt công tác tuyên truyền để phối hợp nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ, chú trọng công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong nhà trường. * Giải pháp đã biết thứ hai: “Một số biện pháp chỉ đạo, nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ trong trương mầm non” của tác giả Đỗ Thị Hiên, trường mầm non Đồng Tĩnh, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc. * Ưu điểm: Quan tâm đến nâng mức tiền ăn nhằm đáp ứng được tỷ lệ calo và cân đối các chất dinh dưỡng, nâng cao chất lượng bữa ăn, quan tâm đến công tác bồi dưỡng chuyên môn về cách chế biến, cân đối khẩu phần ăn cho nhân viên nấu ăn thông qua việc tổ chức tốt các hội thi cấp trường về chế độ dinh dưỡng để phát huy khả năng nhận thức của nhân viên nấu ăn nâng cao chất lượng bữa ăn. * Tồn tại: Chưa có từng biện pháp quan tâm đến từng đối tượng cụ thể như đối với trẻ suy dinh dưỡng hay trẻ béo phì, thừa cân .
- II. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận sáng kiến: 1. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận sáng kiến: Những năm tháng đầu đời là thời điểm quan trọng để trẻ phát triển nhận thức, ngôn ngữ và thể chất. Một chế độ dinh dưỡng hợp lý là nền tảng giúp trẻ phát triển toàn diện, khỏe mạnh và có khả năng học hỏi tốt hơn. Do đó chế độ dinh dưỡng không hợp lý sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ và sự phát triển toàn diện của trẻ, việc đảm bảo chế độ ăn hàng ngày cho trẻ được an toàn, đảm bảo vệ sinh, dinh dưỡng hợp lý cân đối các chất là rất quan trọng và cần thiết trong các bữa ăn của trẻ. Biện pháp 1: Xây dựng và thực hiện tốt kế hoạch chăm sóc nuôi dưỡng nhằm nâng cao chất lượng nuôi dưỡng cho trẻ trong nhà trường. Chúng tôi luôn trăn trở, suy nghĩ để tìm ra một số biện pháp phù hợp trong công tác chỉ đạo, bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên, nhân viên nấu ăn: Sau khi tìm hiểu thực trạng, nắm rõ được những điều kiện thuận lợi và những điểm còn hạn chế của công tác nuôi dưỡng nói chung và trường Mầm non Minh Khai nói riêng. Dựa trên kết quả đánh giá cuối mỗi năm học, tôi xác định rõ từng nội dung công việc cụ thể, từng nhóm lớp, từng tổ chuyên môn và nhân viên nấu ăn, làm sao để nâng cao chất lượng nuôi dưỡng cho trẻ trong nhà trường, thực hiện tốt nhiệm vụ được phân công nhằm thực hiện tốt việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ được tốt nhất. Biện pháp 2: Làm tốt công tác tuyên truyền - Phối kết hợp với phụ huynh trong công tác nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục trẻ đặc biệt đối với trẻ suy dinh dưỡng, thừa cân, béo phì. Chúng tôi thường xuyên, liên tục chỉ đạo giáo viên cung cấp thông tin về kiến thức chăm sóc nuôi dạy trẻ qua góc tuyên truyền tại nhóm lớp và nhà trường, hàng tháng kết hợp với đài truyền thanh của phường gửi bài tuyên truyền để phát trên hệ thống đài truyền thanh của phường. Từ đó giúp phụ huynh nắm được một số kiến thức và kinh nghiệm nuôi dưỡng trẻ như: Nhu cầu dinh dưỡng của trẻ theo độ tuổi; cách cho trẻ ăn bổ sung; phương pháp chăm sóc trẻ bị bệnh; cách giữ gìn môi trường sạch sẽ, thoáng mát.; các điều kiện chăm sóc trẻ ở trường, ở nhà. Biện pháp 3: Tăng cường xây dựng chế độ dinh dưỡng hợp lý phù hợp với trẻ và điều kiện của nhà trường Nguyên tắc khi thiết lập chế độ dinh dưỡng cho trẻ là bữa ăn cần đảm bảo nhu cầu năng lượng và các chất dinh dưỡng cần thiết với tỷ lệ cân đối và hợp lý; đảm bảo tính đa dạng về giá trị dinh dưỡng. Mỗi bữa không chỉ cần có đủ các nhóm thực phẩm mà ngay trong cùng nhóm thực phẩm cũng nên thay thế nhiều loại khác nhau kể cả thịt, ngũ cốc hay rau quả. Vì thế mỗi thực đơn ở trường chúng tôi thường phối hợp nhiều loại thực phẩm (có từ 25 đến 27 loại). Để đảm bảo nguyên tắc xây dựng thực đơn trong thời gian dài ngày nhằm giúp cho việc
- điều hòa khối lượng thực phẩm và tổ chức công việc chế biến chúng tôi đã xây dựng 10 thực đơn (02 tuần) với các món ăn không trùng nhau. Các món ăn tại trường luôn phải phong phú về màu sắc, mùi vị, được nấu ở nhiệt độ thích hợp để đảm bảo dưỡng chất. Số bữa ăn và giá trị năng lượng của từng bữa chúng tôi chỉ đạo dựa theo yêu cầu của từng độ tuổi để tính toán đưa ra cho phù hợp với trẻ và thực tế mức tiền ăn tại trường. Biện pháp 4: Bổ sung lượng rau xanh, quả chín vào thực đơn cho trẻ để cân bằng đạm thực vật giúp giảm tỉ lệ trẻ thừa cân, béo phì Rau xanh cung cấp rất nhiều yếu tố vi lượng, cũng như các chất bảo vệ, giúp cơ thể khỏe mạnh, tăng cường sức đề kháng. Những lợi ích tuyệt vời của rau củ quả đã được khoa học chứng minh là cực kỳ cần thiết đối với sức khỏe của người lớn cũng như trẻ em trong bữa ăn hàng ngày, nó đóng một vai trò rất quan trọng trong sự phát triển cả về thể lực cũng như trí lực của trẻ. Nếu trẻ chỉ ăn các sản phẩm thịt trong chế độ ăn hàng ngày có thể khiến cơ thể trẻ bị thiếu hụt dinh dưỡng trầm trọng vì đã loại trừ một số lượng đáng kể các chất dinh dưỡng mà cơ thể trẻ cần để hoạt động và phát triển đúng cách. Biện pháp 5: Khuyến khích trẻ đặc biệt là trẻ suy dinh dưỡng, thừa cân, béo phì tăng cường các hoạt động vận động, tận dụng môi trường trong và ngoài lớp cho trẻ tham gia vận động giúp trẻ ăn ngon miệng và phát triển thể lực tốt hơn Trong thực tế, khi vận động tim hoạt động tích cực hơn, máu mang nhiều oxy, dưỡng chất cần thiết sẽ đến nuôi dưỡng các bộ phận trong cơ thể, lúc đó trẻ mới có thân hình cân đối. Trẻ vận động đúng cách kích thích cơ quan tiêu hóa làm việc tốt hơn giúp ăn ngon miệng và hấp thu dưỡng chất hiệu quả nhất.Để trẻ tích cực tham gia các hoạt động vận động, chúng tôi đã xây dựng kế hoạch chỉ đạo giáo viên xây dựng môi trường phát triển vận động trong và ngoài lớp học nhằm tạo điều kiện cho trẻ tích cực tham gia vận động mọi lúc mọi nơi, trong mọi hoạt động. Các đồ dùng dụng cụ được sử dụng mọi lúc, mọi nơi trong mọi hoạt động giáo dục phát triển vận động cho trẻ như: giờ thể dục sáng các cháu được sử dụng dụng cụ vào các bài tập kết hợp với các bản nhạc làm cho các hoạt động đó thêm sinh động và kích thích trẻ sự ham học tập của các cháu (Hình ảnh 1) 2. Tính mới, tính sáng tạo: a.Tính mới: Xây dựng chế độ dinh dưỡng cho trẻ là việc làm rất cần thiết cho bữa ăn đảm bảo nhu cầu năng lượng và các chất dinh dưỡng với tỷ lệ cân đối và hợp lý.. Để đảm bảo Kcalo trong từng bữa, dưỡng chất cân đối trong mỗi thực đơn người xây dựng thực đơn phải lựa chọn và kết hợp thực phẩm thật khéo léo; phải nắm được dưỡng chất của từng thực phẩm, biết nhóm thực phẩm nào có ưu thế, hạn chế gì có thể kết hợp bổ sung cho nhau giúp tăng cường dinh dưỡng trong món ăn song vẫn phù hợp với mức tiền ăn 26.500đ/1 trẻ/ 1 ngày. Hơn nữa, những lợi ích tuyệt
- vời của rau xanh cũng đã được khoa học chứng minh là rất cần thiết đối với sức khỏe của người lớn cũng như trẻ em trong bữa ăn hàng ngày, nó đóng một vai trò rất quan trong trong sự phát triển cả về thể lực cũng như trí lực của trẻ. Chính vì thế tăng cường lượng rau xanh, quả chín vào trong thực đơn cho trẻ đủ theo nhu cầu khuyến nghị của viện dinh dưỡng là rất tốt, vì bé ăn nhiều rau củ quả thường có trọng lượng cơ thể thấp hơn các bé khác. Để giảm tỷ lệ trẻ thừa cân, béo phì ngoài việc thực hiện chế độ dinh dưỡng hợp lý, phối hợp nhiều loại thực phẩm, đặc biệt tăng cường ăn nhiều rau xanh, chúng tôi chỉ đạo giáo viên tăng cường hoạt động ngoài trời, tận dụng sân trường rộng cho trẻ thỏa thích được chạy nhảy, tham gia các bài tập thể dục, các trò chơi đá bóng, ném bóng, kéo co, nhảy bao bố .. Như vậy có thể nói đây là những giải pháp tối ưu nhất mà chúng tôi đã lựa chọn và sử dụng nhằm để:“Nâng cao chất lượng nuôi dưỡng trẻ suy dinh dưỡng, thừa cân, béo phì trong trường mầm non có hiệu quả” b. Tính sáng tạo Trong giải pháp của chúng tôi bên cạnh việc:“Tăng cường xây dựng chế độ dinh dưỡng hợp lý” thì việc “Thay đổi hình thức tổ chức giờ ăn” giúp nâng cao chất lượng nuôi dưỡng trẻ suy dinh dưỡng, thừa cân, béo phì trong trường mầm non có hiệu quả” chính là nội dung sáng tạo của chúng tôi: Thứ nhất thay đổi hình thức tổ chức giờ ăn Chúng tôi đưa ra giải pháp tìm dụng cụ đong thức ăn phù hợp với định lượng xuất ăn của mỗi trẻ thay thế cho việc cân vừa mất thời gian, vừa phụ thuộc vào giáo viên không phát huy tính tự lập của trẻ. Vấn đề ăn để riêng từng món được giải quyết thay thế bằng khay 4 ngăn, Song bên cạnh đó, muốn giải pháp thành công đều cần có sự kết hợp giữa nhân viên nấu ăn và giáo viên trên lớp. Nhân viên nấu ăn nấu các món ăn cân đối dinh dưỡng hợp lý, tăng cường lượng rau xanh; giáo viên trao đổi với trẻ về cách thay đổi hình thức giờ ăn khác mọi ngày như đồ dùng để ăn, cách chuẩn bị bàn ăn, cách lấy thức ăn, cách ăn...; trong hoạt động góc giáo viên phải thường xuyên hướng dẫn trẻ làm lọ hoa chuẩn bị cho giờ ăn, từ đó càng tạo cho trẻ thêm phấn kích, háo hức chờ đợi đến giờ ăn (Hình ảnh 2) Thứ hai cải tiến, sáng tạo trong cách chế biến món ăn cho trẻ. Từ cách cải tiến, sáng tạo khi chế biến món ăn cho trẻ chúng tôi thấy các cháu của trường tôi rất hứng thú trong bữa ăn, ăn ngon miệng, hết xuất và điều đặc biệt các cháu rất thích được đến trường, ăn cơm ở trường với lý do: “Vì ở trường các cô nhân viên nấu ăn nấu các món ăn ngon hơn bố mẹ nấu các món ăn ở nhà” (Hình ảnh 3) 3. Hiệu quả, lợi ích thu được do áp dụng giải pháp a. Hiệu quả về mặt kinh tế Nếu như ta có một chế độ nuôi dưỡng trẻ tốt, hợp lý về dinh dưỡng, vận động đúng cách, tổ chức giờ ăn khoa học giúp trẻ hấp thu hiệu quả dưỡng chất thì tỉ lệ suy dinh dưỡng, thừa cân, béo phì trong nhà trường sẽ giảm một cách rõ rệt,
- sức khỏe, sức đề kháng của trẻ được nâng cao, trẻ thông minh, nhanh nhẹn, khỏe mạnh không ốm đau là niềm hạnh phúc của mọi gia đình. b. Hiệu quả về mặt xã hội: Với sáng kiến này chúng tôi thấy, không những chỉ đạt hiệu quả cao về kinh tế mà đạt cả hiệu qur về mặt xã hội vì chúng tôi thấy được lợi ích về sức khỏe của trẻ là lâu dài. Trẻ có một chế độ dinh dưỡng khoa học, hợp lý sẽ giúp khỏe mạnh, tăng cường sức đề kháng, chống lại dịch bệnh là điều không chỉ cha mẹ mà cả xã hội mong đợi (Đặc biệt trong giai đoạn này mỗi người, mỗi gia đình ai ai cũng rất cần cho trẻ có một sức khoẻ tốt, sức đề kháng tốt để phòng, chống lại bệnh dịch đặc biệt là các bệnh dịch đang được coi là đại dịch đang lây lan toàn xã hội đó là các bệnh Covid-19, bệnh dịch cúm A, cúm B, sốt xuất huyết, đậu mùa khỉ .). Việc thực hiện tốt, đồng bộ các giải pháp trên đã góp phần không nhỏ trong việc nâng cao sức khỏe cho trẻ, từ đó, tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng, thừa cân, béo phì ở trẻ trong nhà trường ngày càng giảm thấp theo thời gian áp dụng giải pháp. c. Giá trị làm lợi khác: Chính nhờ thể lực của trẻ được tăng lên, trẻ nhanh nhẹn khỏe mạnh có sức khỏe tham gia tốt các hoạt động. Số trẻ ra trường ngày một tăng cao, tỉ lệ đi học chuyên cần đạt trên 93%. Trẻ phát triển nhanh, toàn diện chính là nguồn cung cấp nhân lực khỏe về tâm hồn, sáng về trí tuệ, là công dân tốt có ích cho xã hội mai sau 4. Khả năng nhân rộng: Các giải pháp trên có thể áp dụng cho tất cả cán bộ quản lý về công tác nuôi dưỡng trẻ trong các trường mầm non trên địa bàn Quận. 5. Phạm vi ảnh hưởng: Trẻ nhanh nhẹn, khỏe mạnh, tích cực chủ động, hào hứng, thích được tham gia các hoạt động của tường, của lớp, từ đó tạo cho các bậc phụ huynh, nhân dân quanh khu vực trên địa bàn phường tin tưởng vào công tác chăm sóc giáo dục trẻ của nhà trường, gây được tiếng vang lớn trong công tác nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục trẻ của nhà trường - xứng tầm với tên gọi trường Mầm non Minh Khai, điểm sáng và là địa chỉ đáng tin cậy cho các bậc phụ huynh trên địa bàn phường, địa bàn Quận cần quan tâm. Minh Khai, ngày 12 tháng 01 năm 2023 NGƯỜI VIẾT ĐƠN Đoàn Thị Thúy Mai - Nguyễn Thị Thanh Mai
- BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN I. Thông tin chung về sáng kiến: 1. Tên sáng kiến:“Tăng cường xây dựng chế độ dinh dưỡng hợp lý, thay đổi hình thức tổ chức giờ ăn giúp nâng cao chất lượng nuôi dưỡng trẻ suy dinh dưỡng, thừa cân, béo phì trong trường mầm non có hiệu quả” 2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Quản lý chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ. 3. Tác giả Họ và tên: Nguyễn Thị Thanh Mai Ngày, tháng, năm sinh: Ngày 12 tháng 01 năm 1979 Chức vụ, đơn vị công tác: Phó Hiệu trưởng - Trường Mầm non Minh Khai Điện thoại: 0982194998 4. Đồng tác giả Họ và tên: Đoàn Thị Thúy Mai Ngày, tháng, năm sinh: Ngày 12 tháng 02 năm 1969 Chức vụ, đơn vị công tác: Hiệu trưởng - Trường Mầm non Minh Khai Điện thoại: 0905564668 5. Đơn vị áp dụng sáng kiến: Tên đơn vị: Trường Mầm non Minh Khai Địa chỉ: Số 24, Lý Tự Trọng, Minh Khai, Hồng Bàng, Hải Phòng. Điện thoại: 0982194998 - 0905564668 I. Mô tả giải pháp đã biết: Giải pháp đã biết thứ nhất: “Một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng bữa ăn bán trú cho trẻ trong trường mầm non” của tác giả Phạm Thị Lệ Thuỷ trường mầm non Gia Khánh huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc Ưu điểm của giải pháp: Ở giải pháp này tác giả đề cập đến tăng cường công tác quản lý chỉ đạo của nhà quản lý đối với việc nuôi dưỡng trẻ tại trường mầm non thông qua việc xây dựng thực đơn, tính khẩu phần ăn đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng hàng ngày phù hợp với nhu cầu của trẻ. Không ngừng nâng cao chất lượng chuyên môn cho đội ngũ nhân viên nấu ăn thông qua việc bồi dưỡng chuyên môn. Quan tâm chăm sóc sức khoẻ cho trẻ đặc biệt là trẻ suy dinh dưỡng, thừa cân, béo phì. Mặt khác thực hiện tốt công tác tuyên truyền để phối hợp nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ, chú trọng công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong nhà trường.
- Giải pháp đã biết thứ 2: “Một số biện pháp chỉ đạo, nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ trong trương mầm non” của tác giả Đỗ Thị Hiên, trường mầm non Đồng Tĩnh, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc. Ưu điểm của giải pháp: Giải pháp quan tâm đến nâng mức tiền ăn nhằm đáp ứng được tỷ lệ calo và cân đối các chất dinh dưỡng, nâng cao chất lượng bữa ăn, quan tâm đến công tác bồi dưỡng chuyên môn về cách chế biến, cân đối khẩu phần ăn cho nhân viên nấu ăn thông qua việc tổ chức tốt các hội thi cấp trường về chế độ dinh dưỡng để phát huy khả năng nhận thức của nhân viên nấu ăn nâng cao chất lượng bữa ăn. Quản lý theo dõi sức khoẻ trẻ và tổ chức bữa ăn của trẻ đúng quy định. Ngoài ra tác giả còn đề cập đến việc phối hợp với Công đoàn nhà trường triển khai trồng rau xanh tại nhà trường để hạ giá thành sản phẩm, có lượng rau sạch đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, nâng cao chất lượng bữa ăn của trẻ. Tồn tại của các giải pháp: Chưa có từng biện pháp quan tâm đến từng đối tượng cụ thể như đối với trẻ suy dinh dưỡng hay trẻ béo phì, thừa cân .Từ đó có biện pháp tác động cho phù hợp với từng đối tượng giúp cho việc nâng cao chất lượng bữa ăn đạt hiệu quả. II. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận sáng kiến: 1. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận sáng kiến: Như chúng ta đã biết chất dinh dưỡng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sức khỏe và sự phát triển của cơ thể con người. Chất dinh dưỡng bao gồm các chất sinh năng lượng chất đạm (protein), béo (lipid), bột đường (glucid) và chất không sinh năng lượng vitamin (A, K, D, E, B, C ) và khoáng chất (canxi, magie, sắt ). Những năm tháng đầu đời là thời điểm quan trọng để trẻ phát triển nhận thức, ngôn ngữ và thể chất. Một chế độ dinh dưỡng hợp lý là nền tảng giúp trẻ phát triển toàn diện, khỏe mạnh và có khả năng học hỏi tốt hơn. Dinh dưỡng rất quan trọng đối với sự phát triển toàn diện của trẻ. Chỉ số IQ của trẻ có liên quan mật thiết đến chất lượng của nguồn dinh dưỡng mà trẻ nhận được trong những năm tháng đầu đời. Theo nhiều nghiên cứu, trẻ em suy dinh dưỡng có khả năng học hỏi kém hơn so với những trẻ được nuôi với chế độ dinh dưỡng đầy đủ cân bằng. Dinh dưỡng ảnh hưởng đến chỉ số EQ và tính cách của đứa trẻ: Dinh dưỡng không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển của não bộ, trí tuệ mà còn tác động trực tiếp đến chỉ số cảm xúc EQ. Trẻ em bị suy dinh dưỡng từ nhỏ có nhiều nguy cơ mắc các chứng tự kỷ, lo âu, trầm cảm. Tính cách của trẻ cũng liên quan đến dinh dưỡng, những trẻ không được cung cấp đầy đủ dinh dưỡng trong hai năm đầu đời thường có dấu hiệu nhút nhát, ít hoạt động, ít giao tiếp và thường không biết chia sẻ với người khác. Dinh dưỡng đầy đủ giúp trẻ thông minh: Chất lượng nuôi dưỡng hay chất lượng dinh dưỡng trong những năm tháng đầu đời sẽ ảnh hưởng đến khả năng
- học tập của trẻ sau này. Nhiều nghiên cứu khoa học cho thấy trẻ được cung cấp đầy đủ dinh dưỡng trong quá trình phát triển thai nhi và giai đoạn đầu đời thường có chỉ số IQ cao hơn hoặc trẻ bị thiếu sắt sẽ có nguy cơ giảm nhận thức và thành tích ở tuổi đi học. Bên cạnh đó, khoa học cũng chứng minh rằng những trẻ được cung cấp đầy đủ dinh dưỡng thường thích vận động, có khả năng tương tác xã hội, ham học hỏi và có khả năng nhận thức tốt hơn. Vì vậy cha mẹ nên lưu ý cung cấp đủ dinh dưỡng, vitamin, khoáng chất và dưỡng chất cho sự phát triển não bộ và cơ thể của trẻ. Ngày nay nhờ áp dụng dinh dưỡng vào cuộc sống sức khoẻ mà khoa học đã khám phá ra tầm quan trọng của dinh dưỡng trong đời sống sức khoẻ con người.... Nếu dư thừa hoặc thiếu hụt các chất dinh dưỡng trong cơ thể thì sẽ gây ra bệnh tật hoặc nguy hiểm hơn là có thể dẫn tới tử vong nhất là đối với trẻ nhỏ. Hơn nữa như chúng ta đã biết tốc độ phát triển thể lực, trí tuệ và tình cảm cùng các mối quan hệ xã hội của trẻ mầm non là rất nhanh, nhanh đến mức mà người ta cho rằng sự thành công của chúng ta quyết định sự thành đạt của đứa trẻ trong tương lai. Do đó chế độ dinh dưỡng không hợp lý sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ và sự phát triển toàn diện của trẻ, việc đảm bảo chế độ ăn hàng ngày cho trẻ được an toàn, đảm bảo vệ sinh, dinh dưỡng hợp lý cân đối các chất là rất quan trọng và cần thiết trong các bữa ăn của trẻ. Vì vậy để chế biến được những món ăn ngon, phong phú, thơm ngon, hấp dẫn, đạt tiêu chuẩn về vệ sinh dinh dưỡng, đòi hỏi nhân viên nấu ăn phải luôn luôn tìm tòi, học hỏi, khám phá ra những món ăn ngon mới lạ, hấp dẫn cho trẻ ăn tại trường. Biết cách phối kết hợp với giáo viên chăm sóc tuyên truyền và phối kết hợp chặt chẽ với các bậc phụ huynh về công tác chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng trẻ tại gia đình. Chính vì vậy tôi đã chọn đề tài: :“Tăng cường xây dựng chế độ dinh dưỡng hợp lý, giúp nâng cao chất lượng nuôi dưỡng trẻ suy dinh dưỡng, thừa cân, béo phì trong trường mầm non có hiệu quả” Biện pháp 1: Xây dựng và thực hiện tốt kế hoạch chăm sóc nuôi dưỡng nhằm nâng cao chất lượng nuôi dưỡng cho trẻ trong nhà trường. Ngay từ đầu năm học chúng tôi xây dựng kế hoạch chỉ đạo nâng cao chất lượng nuôi dưỡng cho trẻ trong trường mầm non một cách khoa học phù hợp với từng ngày, từng tháng, từng mùa, từng hoàn cành và từng đối tượng: một cách chi tiết, cụ thể đặc biệt là công tác nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng cho trẻ trong trường một cách khoa học, phù hợp. Công việc này đòi hỏi tôi phải tìm tòi, nghiên cứu tài liệu để áp dụng vào thực tiễn công việc của năm học sao cho hợp lý và khoa học. Để làm được điều này được tốt nhất, chúng tôi tìm hiểu kỹ thực trạng của công tác nuôi dưỡng trong trường mầm non nói chung và trường Mầm non Minh Khai nói riêng từ đó so sánh phân loại mức độ thực hiện khá, tốt trong công tác nuôi dưỡng để rút ra được những ưu điểm tốt nhất đưa vào nội dung kế hoạch để thực hiện xuyên suốt trong năm học.
- Chúng tôi luôn trăn trở, suy nghĩ để tìm ra một số biện pháp phù hợp trong công tác chỉ đạo, bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên, nhân viên nấu ăn: Sau khi tìm hiểu thực trạng, nắm rõ được những điều kiện thuận lợi và những điểm còn hạn chế của công tác nuôi dưỡng nói chung và trường Mầm non Minh Khai nói riêng. Dựa trên kết quả đánh giá cuối mỗi năm học, tôi xác định rõ từng nội dung công việc cụ thể, từng nhóm lớp, từng tổ chuyên môn và nhân viên nấu ăn, làm sao để nâng cao chất lượng nuôi dưỡng cho trẻ trong nhà trường, thực hiện tốt nhiệm vụ được phân công nhằm thực hiện tốt việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ được tốt nhất. Xác định rõ được những việc cần làm, chúng tôi giao trách nhiệm tới từng tổ chuyên môn từng cá nhân giáo viên, nhân viên nấu ăn, chúng tôi lập kế hoạch dự thảo, tham khảo ý kiến đóng góp của giáo viên trong trường. Sau khi có những ý kiến đóng góp, bổ sung và chỉnh sửa nội dung, chúng tôi xây dựng một kế hoạch thực hiện chính thức và áp dụng thực hiện trong suốt năm học. Biện pháp 2: Làm tốt công tác tuyên truyền - Phối kết hợp với phụ huynh trong công tác nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục trẻ đặc biệt đối với trẻ suy dinh dưỡng, thừa cân, béo phì. Nhà trường xây dựng kế hoạch tổ chức họp phụ huynh học sinh 3 lần/năm học, thông qua các buổi họp phụ huynh, công tác tuyên truyền phổ biến một số kiến thức nuôi dạy con khoa học, nuôi dạy trẻ suy dinh dưỡng, thừa cân béo phì sẽ được triển khai tới 100% các bậc phụ huynh trong nhà trường. Nhà trường tổ chức khám sức khoẻ định kỳ cho trẻ 1 lần/1 năm học, cân đo định kỳ 3 lần/ 1 năm học (đối với trẻ Mẫu giáo + Nhà trẻ 24-36 tháng); 1 lần/ 1tháng (đối với trẻ Nhà trẻ 12-24 tháng). Thông qua việc tổ chức khám sức khoẻ cân đo định kỳ, giáo viên và nhà trường nắm bắt được số lượng trẻ suy dinh dưỡng, béo phì của lớp, của nhà trường. Nhà trường lập danh sách trẻ suy dinh dưỡng, thừa cân, béo phì, xây dựng kế hoạch phục hồi trẻ suy dinh dưỡng, thừa cân béo phì, thông báo đến phụ huynh trong buổi họp phụ huynh đầu năm học (Lần 1- báo cáo tình trạng sức khoẻ của trẻ đầu năm học, Lần 2 - báo cáo tình trạng sức khoẻ của trẻ học kỳ I, Lần 3 - báo cáo tình trạng sức khoẻ của trẻ học kỳ II ) phụ huynh nắm được sự nguy hiểm như thể nào nếu trẻ bị thiếu hoặc thừa chất dinh dưỡng và từ đó chủ động có kế hoạch phối hợp cùng nhà trường trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ, giúp cho giáo viên và phụ huynh có sự thống nhất trong việc nuôi dưỡng chăm sóc trẻ, đặc biệt là trẻ suy dinh dưỡng, thừa cân, béo phì. Chúng tôi thường xuyên, liên tục chỉ đạo giáo viên cung cấp thông tin về kiến thức chăm sóc nuôi dạy trẻ qua góc tuyên truyền tại nhóm lớp và nhà trường, hàng tháng kết hợp với đài truyền thanh của phường gửi bài tuyên truyền để phát trên hệ thống đài truyền thanh của phường. Từ đó giúp phụ huynh nắm được một số kiến thức và kinh nghiệm nuôi dưỡng trẻ như: Nhu cầu dinh dưỡng của trẻ theo độ tuổi; cách cho trẻ ăn bổ sung; phương pháp chăm sóc trẻ
- bị bệnh; cách giữ gìn môi trường sạch sẽ, thoáng mát.; các điều kiện chăm sóc trẻ ở trường, ở nhà. Ngoài ra, chúng tôi còn chỉ đạo giáo viên các nhóm, lớp tạo môi trường, thực hiện tốt công tác tuyên truyền ngay trong lớp học, trong trường bằng các hình thức phù hợp như tranh, ảnh, Pano, áp phích, bảng tin...vv để phụ huynh nắm được tầm quan trọng của các chất dinh dưỡng đối với cơ thể con người đặc biệt đối với trẻ nhỏ để từ đó huy động được sự đồng thuận và tham gia ủng hộ nhiệt tình về mọi mặt của các ban ngành đoàn thể và các bậc phụ huynh. Biện pháp 3: Tăng cường xây dựng chế độ dinh dưỡng hợp lý phù hợp với trẻ và điều kiện của nhà trường Ở lứa tuổi mầm non, não bộ và thể chất của trẻ phát triển mạnh mẽ. Đồng thời, trẻ cần rất nhiều năng lượng đảm bảo các hoạt động vui chơi, học tập ở trường. Do đó trẻ em trong độ tuổi mầm non rất cần được chăm sóc bởi một chế độ dinh dưỡng hợp lý, phù hợp với trẻ, khoa học và đúng cách. Các dưỡng chất quan trọng sẽ giúp cho trẻ sự hoàn thiện và phát triển của cơ thể. Việc cân đối chế độ ăn uống phù hợp với trẻ là cực kỳ quan trọng. Nguyên tắc khi thiết lập chế độ dinh dưỡng cho trẻ là bữa ăn cần đảm bảo nhu cầu năng lượng và các chất dinh dưỡng cần thiết với tỷ lệ cân đối và hợp lý; đảm bảo tính đa dạng về giá trị dinh dưỡng. Mỗi bữa không chỉ cần có đủ các nhóm thực phẩm mà ngay trong cùng nhóm thực phẩm cũng nên thay thế nhiều loại khác nhau kể cả thịt, ngũ cốc hay rau quả. Vì thế mỗi thực đơn ở trường chúng tôi thường phối hợp nhiều loại thực phẩm (có từ 25 đến 27 loại). Để đảm bảo nguyên tắc xây dựng thực đơn trong thời gian dài ngày nhằm giúp cho việc điều hòa khối lượng thực phẩm và tổ chức công việc chế biến chúng tôi đã xây dựng 10 thực đơn (02 tuần) với các món ăn không trùng nhau. Các món ăn tại trường luôn phải phong phú về màu sắc, mùi vị, được nấu ở nhiệt độ thích hợp để đảm bảo dưỡng chất. Số bữa ăn và giá trị năng lượng của từng bữa chúng tôi chỉ đạo dựa theo yêu cầu của từng độ tuổi để tính toán đưa ra cho phù hợp với trẻ và thực tế mức tiền ăn tại trường. Ví dụ: * Với mức tiền ăn là 26.500 đ/1ngày chúng tôi chỉ đạo nhân viên nấu ăn cân đối chọn: + Đối với trẻ Nhà trẻ: Lượng Kcalo ở mức tối đa cho trẻ Nhà trẻ là 651 Kcalo; Nhu cầu khuyến nghị. Năng lượng tại trường/ngày/trẻ là 70% + Đối với trẻ Mẫu giáo: Lượng Kcalo ở mức tối đa cho trẻ Nhà trẻ là 726 Kcalo; Nhu cầu khuyến nghị. Năng lượng tại trường/ngày/trẻ là 55% Từ đây chúng tôi đã xây dựng cơ cấu tiền ăn của 1 trẻ/ngày tại trường như sau:
- CƠ CẤU TIỀN ĂN CỦA TRẺ 1 NGÀY Ở TRƯỜNG MẦM NON MẪU GIÁO GHI ĐỘ TUỔI NHÀ TRẺ 3 TUỔI 4 TUỔI 5 TUỔI CHÚ Bữa đệm sáng 4.200 Bữa chính trưa 10.900 15.100 + Cơm 1.000 1.200 1.400 1.600 + Canh 2.800 2.800 3.000 3.200 + Thức ăn mặn 7.100 7.600 7.200 6.800 + Rau xanh 2.000 2.000 2.000 + Quả 1.500 1.500 1.500 Bữa phụ chiều 7.200 Bữa đệm chiều 4.200 TỔNG 26.500 26.500 Lưu ý: + Gạo cơm NT: 50g, Gạo MG 3T: 60g; MG 4T: 70g; MG 5T: 80g. + Gạo cháo: 30g (Trong đó: 10g gạo nếp + 20g gạo tẻ) + Sữa mỗi cháu đảm bảo 120 ml/01 bữa Dựa vào cơ cấu tiền ăn của trẻ 1 ngày ở trường Sau khi xây dựng xong bộ thực đơn 10 ngày (2 tuần), chúng tôi chỉ đạo cho nhân viên nấu ăn xây dựng định lượng trong khẩu phần ăn của trẻ, dựa vào bảng tính định lượng khẩu phần ăn: BẢNG TÍNH ĐỊNH LƯỢNG KHẨU PHẦN ĂN ( Đối với 1 trẻ Mẫu giáo, 1 trẻ nhà trẻ. Số lượng tiền ăn 26.500 đ/1 ngày) Số lượng Giá tiền Chất dinh dưỡng (g) Đơn Calo S TÊN THỰC (kg) (kg) P L giá T G PHẨM (đồn T MG NT g) MG NT ĐV TV ĐV TV MG NT MG NT MG NT MG NT MG NT MG NT BỮA ĐỆM SÁNG 4,200 4,200 1 Sữa Grow 0.020 0.020 210,000 4,200 4,200 3.5 3.5 3.0 3.0 11.7 11.7 87.6 87.6 BỮA CHÍNH TRƯA CƠM 1,260 900 172. 2 Gạo tẻ máy 0.070 0.050 18,000 1,260 900 5.5 4.0 0.7 0.5 53.1 38.0 240.8 0 CANH 3,010 2,865 3 Cải xoong 0.060 0.050 25,000 1,500 1,250 0.9 0.7 0.5 0.5 6.3 5.3 110. 4 Xương đuôi 0.012 0.013 105,000 1,260 1,365 1.0 1.0 11.4 12.4 102.0 5 5 Súp 0.002 0.002 25,000 50 50 Hành củ 6 tươi 0.002 0.002 65,000 130 130 Dầu đậu 7 tương 0.001 0.001 70,000 70 70 THỨC ĂN 7,415 7,090
- Số lượng Giá tiền Chất dinh dưỡng (g) Đơn Calo S TÊN THỰC (kg) (kg) P L giá T G PHẨM (đồn T MG NT g) MG NT ĐV TV ĐV TV MG NT MG NT MG NT MG NT MG NT MG NT Thịt bò loại 8 1 0.010 0.010 320,000 3,200 3,200 2.1 2.1 0.4 0.4 11.6 11.6 9 Thịt lợn nạc 0.020 0.020 150,000 3,000 3,000 3.7 3.7 1.4 1.4 27.2 27.2 10 Khoai tây 0.020 0.010 25,000 500 250 0.3 0.2 3.6 1.8 16.2 8.1 11 Cà rốt 0.010 0.007 25,000 250 175 0.1 0.1 0.7 0.5 3.5 2.4 12 Súp 0.002 0.002 25,000 50 50 13 Gừng tươi 0.002 0.002 50,000 100 100 0.1 0.1 0.6 0.6 Hành lá 14 (hành hoa) 0.003 0.003 60,000 180 180 0.1 0.1 0.2 0.2 1.1 1.1 Hành củ 15 tươi 0.001 0.001 65,000 65 65 0.1 0.1 0.2 0.2 1.2 1.2 Dầu đậu 16 tương 0.001 0.001 70,000 70 70 5.0 5.0 45.0 45.0 RAU XÀO 2,010 230 17 Đậu đũa 0.037 0.000 40,000 1,480 2.0 0.1 2.6 19.6 18 Thịt lợn nạc 0.002 0.000 150,000 300 0.4 0.1 2.7 1 9 Súp 0.001 0.001 25,000 25 25 20 Dầu đậu tương 0.002 0.002 70,000 140 140 2 Hành củ 1 tươi 0.001 0.001 65,000 65 65 QUẢ TRÁNG MIỆNG MG 1,400 Quả thanh 22 long 0.040 0.000 35,000 1,400 0.5 3.5 16.0 BỮA PHỤ CHIỀU 7,091 7,091 23 Tôm biển 0.020 0.020 260,000 5,200 5,200 1.6 1.6 0.1 0.1 0.1 0.1 7.5 7.5 Bí đao (bí 24 xanh) 0.025 0.025 28,000 700 700 0.1 0.1 0.5 0.5 2.3 2.3 Nước mắm 25 loại 1 0.009 0.009 50,000 450 450 0.6 0.6 2.5 2.5 26 Gạo tẻ máy 0.020 0.020 1,800 36 36 1.6 1.6 0.2 0.2 15.2 15.2 68.8 68.8 27 Gạo nếp cái 0.010 0.010 30,000 300 300 0.9 0.9 0.2 0.2 7.5 7.5 34.4 34.4 28 Súp 0.001 0.001 25,000 25 25 Hành củ 29 tươi 0.002 0.002 65,000 130 130 Hành lá 30 (hành hoa) 0.003 0.003 60,000 180 180 Dầu đậu 31 tương 0.001 0.001 70,000 70 70 BỮA ĐỆM CHIỀU (NT) 4,125 32 Táo tây 0.000 0.034 125,000 4,125 0.1 0.1 3.2 13.9 TỔNG TIỀN /TRẺ/NGÀY 26,386 26,501 12.9 12.6 12.1 7.8 16.4 17.2 6.3 6.0 99.5 79.2 696.9 602 Cộng: 52,887 đ Bình quân thực tế /1 trẻ 12.9 12.6 12.1 7.8 16.4 17.2 6.3 6.0 99.5 79.2 696.9 602 Thấp: MG:P:13%, L:25%, G:52%; 11.7 11.4 7.8 7.6 11.6 13.6 5.0 5.8 78.0 68.8 615.0 600 NT: P:13%,L: 30%,G:47%
- Số lượng Giá tiền Chất dinh dưỡng (g) Đơn Calo S TÊN THỰC (kg) (kg) P L giá T G PHẨM (đồn T MG NT g) MG NT ĐV TV ĐV TV MG NT MG NT MG NT MG NT MG NT MG NT Cao: MG: P:20%,L:35%,G:60%; 106. 21.3 19.1 14.2 12.7 19.1 19.6 8.2 8.4 79.4 726.0 651 NT: P:20%, L:40%,G:50% 2 - Tiêu chuẩn được chi: 53,000 đ Bữa sáng: - Hôm trước mang sang: - Sữa Grow, Thịt bò, lợn hầm củ, quả - Đã chi: 52,887 đ - Canh cải xoong nấu sườn,Đỗ xào thịt - Thừa: 113 đ Bữa chiều: Cháo tôm, bí xanh - Thiếu: Ăn giữa giờ: Thanh long - Luỹ kế: 113 đ Vì vậy để vừa đảm bảo Kcalo cho từng bữa mà dưỡng chất cân đối như bảng định lượng trên công thức tính ở trên thì trong mỗi thực đơn phải lựa chọn, kết hợp thực phẩm thật khéo léo; nên khi áp dụng vào phần mềm tính ăn chúng tôi chỉ đạo cho nhân viên nấu ăn người xây dựng thực đơn phải tính lượng thực phẩm của 01 trẻ Mẫu giáo, 01 trẻ Nhà trẻ cân đối điều chỉnh sao cho đảm bảo lượng Kcalo, nắm được lượng dưỡng chất của từng thực phẩm, từ đó nhân theo sĩ số trẻ đi học, phù hợp với mức tiền ăn theo cơ cấu đã xây dựng (Đây là nội dung tương đối gặp nhiều khó khăn đối với nhân viên nấu ăn, vì vậy nếu như nhân viên nấu ăn áp dụng biện pháp này tôi nghĩ sẽ rất thuận cho việc xây dựng định lượng ăn cho trẻ toàn trường) Biện pháp 4: Bổ sung lượng rau xanh, quả chín vào thực đơn cho trẻ để cân bằng đạm thực vật giúp giảm tỉ lệ trẻ thừa cân, béo phì Rau xanh cung cấp rất nhiều yếu tố vi lượng, cũng như các chất bảo vệ, giúp cơ thể khỏe mạnh, tăng cường sức đề kháng. Những lợi ích tuyệt vời của rau củ quả đã được khoa học chứng minh là cực kỳ cần thiết đối với sức khỏe của người lớn cũng như trẻ em trong bữa ăn hàng ngày, nó đóng một vai trò rất quan trọng trong sự phát triển cả về thể lực cũng như trí lực của trẻ. Nếu trẻ chỉ ăn các sản phẩm thịt trong chế độ ăn hàng ngày có thể khiến cơ thể trẻ bị thiếu hụt dinh dưỡng trầm trọng vì đã loại trừ một số lượng đáng kể các chất dinh dưỡng mà cơ thể trẻ cần để hoạt động và phát triển đúng cách. Một em bé quá lười ăn rau xanh trong chế độ ăn uống hàng ngày có thể gây nhiều nguy hại cho sức khỏe của bé ngay từ bây giờ và cả sau này. Theo viện dinh dưỡng quốc gia trẻ em cần ăn 120 - 150g rau, quả trong ngày (Ở trường khoảng 80 - 100g). Chính vì thế, chúng tôi đã chỉ đạo nhân viên nấu ăn khi xây dựng thực đơn phải tăng cường lượng rau xanh, quả chín vào trong thực đơn cho trẻ đủ theo nhu cầu khuyến nghị của viện dinh dưỡng. Có những loại rau trẻ không thích ăn nếu như chỉ nấu một loại với định lượng như khuyến nghị thì trẻ sẽ không ăn hết
- do đó chúng tôi tiếp tục áp dụng giải pháp “Bữa ăn cầu vồng” có nghĩa là kết hợp nhiều loại rau với những màu sắc khác nhau. Ví dụ: Khi xây dựng thực đơn lượng rau được tăng lên gấp đôi thì không chỉ nấu 1 loại với 1 món canh mà thường phối hợp 3 - 4 loại rau trong bữa ăn; chế biến ngoài món canh còn có thêm món rau xào (hoặc luộc) để kích thích trẻ ăn hết lượng rau. Mỗi ngày thực đơn của trẻ được chúng tôi chỉ đạo lựa chọn với các loại rau có màu sắc khác nhau để tạo ra bữa ăn có màu sắc hấp dẫn, canh là rau màu xanh thì rau xào hoặc luộc sẽ là củ quả có màu sắc như su su, cà rốt, bí đỏ, củ cải, đỗ cove. Nếu là món canh củ, quả thập cẩm thì rau xào sẽ là rau xanh .. Theo các chuyên gia, bé ăn nhiều rau củ quả thường có trọng lượng cơ thể thấp hơn các bé khác. Chế độ ăn uống giàu rau củ chứa lượng calo và chất béo thấp hơn, từ đó ngăn chặn tình trạng béo phì xảy ra sớm ở bé. Bữa ăn cầu vồng chính là giải pháp giúp phòng chống bệnh tật, giúp giảm cân hiệu quả, đặc biệt với trẻ thừa cân, béo phì. Thực tế trong xã hội phát triển hiện nay nguy cơ trẻ thừa cân, béo phì tại các trường đang có chiều hướng gia tăng do trẻ được nuôi dưỡng với những bữa ăn nhanh, thức ăn chế biến sẵn nhiều đạm, ít rau. Do đó giải pháp bổ sung lượng rau xanh, quả chín vào thực đơn cho trẻ để cân bằng đạm thực vật giúp giảm tỉ lệ trẻ thừa cân, béo phì là rất cần thiết, qua một học kỳ thực hiện tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng giảm 0,3%, thừa cân, béo phì của nhà trường giảm 1,5% Biện pháp 5: Khuyến khích trẻ đặc biệt là trẻ suy dinh dưỡng, thừa cân, béo phì tăng cường các hoạt động vận động, tận dụng môi trường trong và ngoài lớp cho trẻ tham gia vận động giúp trẻ ăn ngon miệng và phát triển thể lực tốt hơn Theo nghiên cứu của viện Dinh dưỡng Quốc gia cho biết mối liên quan giữa tình trạng trẻ lười vận động của trẻ suy dinh dưỡng hay trẻ thừa cân, béo phì. Trong thực tế, khi vận động tim hoạt động tích cực hơn, máu mang nhiều oxy, dưỡng chất cần thiết sẽ đến nuôi dưỡng các bộ phận trong cơ thể, lúc đó trẻ mới có thân hình cân đối. Trẻ vận động đúng cách kích thích cơ quan tiêu hóa làm việc tốt hơn giúp ăn ngon miệng và hấp thu dưỡng chất hiệu quả nhất. Vì vậy, để giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng hay thừa cân, béo phì ngoài việc thực hiện chế độ dinh dưỡng hợp lý, phối hợp nhiều loại thực phẩm, đặc biệt tăng cường ăn nhiều rau xanh đối với trẻ thừa cân, béo phì, chúng tôi đã kết hợp với đồng chí Phó Hiệu trưởng phụ trách chuyên môn của nhà trường xây dựng Kế hoạch thực hiện Đề án "Phát triển giáo dục thể chất và thể thao trường học giai đoạn 2016- 2020, định hướng đến 2025" nhằm tăng cường hoạt động vận động cho trẻ bằng cách tận dụng môi trường trong và ngoài lớp cho trẻ được vận động thường xuyên: chạy nhảy, tham gia các bài tập thể dục, các trò chơi đá bóng, ném bóng, kéo co, nhảy bao bố . Lợi thế của trường là có nhiều ánh nắng, nhưng nếu để hoạt động ngoài trời đúng theo chế độ sinh hoạt là sau giờ học 9h15 thì sẽ không tốt cho sức khỏe của trẻ vì thế chúng tôi đề xuất thay đổi thời gian lên sau
- giờ hoạt động thể dục sáng (sau 8h) cho trẻ hoạt động ngoài trời kết hợp tắm nắng, chơi các trò chơi vận động giúp trẻ hấp thụ VitaminD, cải thiện tầm nhìn phòng tránh bệnh về mắt như cận thị, viến thị Để trẻ tích cực tham gia các hoạt động vận động, chúng tôi đã xây dựng kế hoạch chỉ đạo giáo viên xây dựng môi trường phát triển vận động trong và ngoài lớp học nhằm tạo điều kiện cho trẻ tích cực tham gia vận động mọi lúc mọi nơi, trong mọi hoạt động. * Tạo môi trường vận động ngoài lớp học: Muốn trẻ tích cực tham gia vận động thì việc đầu tiên phải tạo môi trường vận động hấp dẫn, môi trường trẻ có thích trẻ mới tích cực hoạt động, như vậy việc xây dựng môi trường vận động hấp dẫn là vô cùng cần thiết. Ngay từ đầu năm học khi Phòng GD&ĐT triển khai Đề án "Phát triển giáo dục thể chất và thể thao trường học giai đoạn 2016- 2020, định hướng đến 2025", chúng tôi đã phối kết hợp với đồng chí PHT phụ trách chuyên môn xây dựng kế hoạch thực hiện Đề án, kế hoạch mua sắm cơ sở vật chất (đồ dùng, đồ chơi phát triển vận động ), chỉ đạo giáo viên tạo môi trường vận động hấp dẫn cho trẻ. Cụ thể: trên sân trường, ngay trước các lớp học, khu vực trẻ tập thể dục sáng, chúng tôi đã chỉ đạo vẽ các bông hoa để quy định khoảng cách chỗ đứng cho từng trẻ. Song nếu ngày nào ra sân cũng tập thể dục sáng bằng tay không trẻ sẽ chán, vì vậy ngoài việc triển khai cho trẻ sử dụng vòng, gậy...chúng tôi đã vận động giáo viên và trẻ cùng sáng tạo thêm một số đồ dùng, dụng cụ như nơ tay, lá cờ, hoa thể dục...để trẻ tập thay đổi với dụng cụ theo chủ điểm cho phù hợp, song dồ dùng do trẻ tự là ra trẻ rất hứng thú Đặc biệt chúng tôi đã chỉ đạo thiết kế thêm một số bộ sản phẩm tự làm của giáo viên trong trường đặt tại khu vui chơi như: Ném bóng vào đích, bò chui qua cổng, bật sâu, đi thăng bằng, trèo lên xuống thang, chơi nhảy lò cò, bật chụm tách chân. Ngoài ra còn có các trò chơi giúp trẻ phát triển các vận động tinh như: xâu dây, cài cởi cúc, khuy, buộc dây, ở khoá, kéo khó, cài khuy...Các đồ chơi đều có màu sắc hấp dẫn, đẹp, an toàn cho trẻ. Đến khu vực chơi vận động này trẻ có thể tùy thích chơi bất cứ trò chơi nào, hay chơi bất cứ lúc nào như: giờ đón trả trẻ, giờ hoạt động ngoài trời hay tiết học vận động nhằm thỏa mãn nhu cầu vận động cho trẻ Ngoài ra trên các hành lang của các lớp học chúng tôi đã chỉ đạo giáo viên thiết kế các ô bật chụm tách chân, bật liên tục vào các ô, hay khó hơn là bật nhảy theo đúng hình bàn chân trái, bàn chân phải, bàn tay trái, bàn tay phái.... để trẻ có thể tham gia vận động một cách thường xuyên, liên tục hay bất cứ lúc nào mà trẻ thích. * Tạo môi trường vận động trong lớp học: Đối với môi trường trong lớp học ngay từ đầu năm chúng tôi đã chỉ đạo giáo viên ưu tiên tạo môi trường giáo dục phát triển vận động trong lớp học cho trẻ và khi tổ chức chấm tạo môi trường vận động trong nhóm, lớp học chúng tôi ưu tiên để biểu điểm nội dung góc vận động và đặc biệt là sẽ thưởng điểm sáng tạo cho giáo viên khi có nhiều đồ chơi phát triển vận động cho trẻ để từ đó giúp cho
- nhiều trẻ hứng thú tham gia góc vận động với các đồ dùng, đồ chơi sáng tạo. Trong lớp học diện tích cũng có hạn nên chủ yếu tôi chỉ đạo giáo viên thiết kế các trò chơi nhằm phát triển vận động tinh như: cắp cua bỏ giỏ, ném vòng vào cổ chai, búng bi, đá cầu, đá kiện, đấm bốc... để lúc hoạt động góc, hoạt động chiều hay hoạt động đón trả trẻ, trẻ đều có thể tham gia. Sau đợt phát động mỗi lớp đều tạo được một góc vận động riêng với nhiều đồ dùng, dụng cụ vận động phong phú như: bóng, dây, cầu, kiện, cổng chui, đích đứng, túi cát...Việc làm này được giáo viên hưởng ứng nên đã tạo được môi trường phát triển vận động trong lớp rất đa dạng, từ đó giúp trẻ hứng thú hơn khi được chơi với các trò chơi nhằm phát triển vận động giảm hẳn tình trạng lười vận động ở trẻ đặc biệt trẻ suy dinh dưỡng hay trẻ thừa cân, béo phì Môi trường đa dạng, phong phú hấp dẫn sẽ gây hứng thú cho trẻ và tạo ra kết quả của hoạt động cao nhất. Từ đó góp phần hình thành và nâng cao mối quan hệ thân thiện giữa cô và trẻ, giữa trẻ và trẻ. Qua việc chỉ đạo tạo môi trường phát triển vận động cả trong và ngoài lớp, tôi thấy tất cả các trẻ đều tham gia các hoạt động vận động sôi nổi hơn, hứng thú hơn (đặc biệt là những trẻ suy dinh dưỡng hay thừa cân, béo phì ) từ đó giúp trẻ ăn nhanh, ăn ngon miệng hơn, giúp cho quá trình chuyển hoá phát triển thể lực tốt hơn, trẻ có một tinh thần thoải mái, hứng thú trong các hoạt động khác. * Dụng cụ, đồ dùng vận động: Các hoạt động trong trường mầm non đặc biệt là hoạt động giáo dục vận động thì đồ dùng, dụng cụ cho trẻ tập luyện là không thể thiếu. Sử dụng dụng cụ, đồ dùng vận động là một biện pháp vô cùng quan trọng trong hoạt động giáo dục vận động, đối với trẻ nó góp phần không nhỏ vào việc nâng cao kết quả hoạt động vận động của trẻ. Có đồ dùng, dụng cụ vận động đẹp hấp dẫn đa dạng, phong phú làm cho hoạt động thêm sinh động, hấp dẫn, khiến trẻ hứng thú nên đạt kết quả cao. Hiểu được điều này nên việc tạo ra các đồ dùng, dụng cụ để giúp trẻ có điều kiện hoạt động tốt hơn là việc làm hết sức cần thiết, vì vậy ngoài việc mua sắm chúng tôi đã khuyến khích giáo viên làm thêm các đồ dùng, đồ chơi giúp trẻ phát triển vận động như: bộ thể dục đa năng, các vật chuẩn, vật làm đích, các đồ dùng phục vụ cho việc tổ chức trò chơi vận động... Đặc biệt bộ thể dục đa năng được sử dụng trong hầu hết các tiết dạy vận động cơ bản cho trẻ, ngoài ra còn được sử dụng trong rất nhiều hoạt động khác. Tuy nhiên việc lựa chọn đồ dùng dụng cụ tập luyện đảm bảo an toàn cho trẻ, đây là việc làm thường xuyên của ban giám hiệu cũng như của giáo viên Khi chấm các đồ dùng phục vụ cho vận động của trẻ chúng tôi đã đưa ra tiêu chí: đồ dùng phải bền chắc, không sắc nhọn, không có nguy cơ gây tai nạn và phải đảm bảo an toàn cho trẻ. Bởi vậy nên chúng tôi thường xuyên chỉ đạo đến 100% giáo viên trong lớp phải thường xuyên có kế hoạch kiểm tra đồ dùng, đồ chơi trong lớp, đặc biệt là đồ dùng, đồ chơi sáng tạo để đảm bảo tính an toàn cho trẻ khi tham gia hoạt động.
- Các đồ dùng dụng cụ được sử dụng mọi lúc, mọi nơi trong mọi hoạt động giáo dục phát triển vận động cho trẻ như: giờ thể dục sáng các cháu được sử dụng dụng cụ vào các bài tập kết hợp với các bản nhạc làm cho các hoạt động đó thêm sinh động và kích thích trẻ sự ham học tập của các cháu (Hình ảnh 1) 2. Tính mới, tính sáng tạo: a.Tính mới: Xây dựng chế độ dinh dưỡng cho trẻ là việc làm rất cần thiết cho bữa ăn đảm bảo nhu cầu năng lượng và các chất dinh dưỡng với tỷ lệ cân đối và hợp lý. Trong mỗi bữa ăn của trẻ không chỉ cần có đủ các nhóm thực phẩm mà ngay trong cùng nhóm thực phẩm cũng nên thay thế nhiều loại khác nhau kể cả thịt, ngũ cốc hay rau quả. Vì thế mỗi thực đơn ở trường chúng tôi đều thường phối hợp nhiều loại thực phẩm, khi tính định lượng, chúng tôi xây dựng trên phần mềm tính ăn threo yêu cầu (của một cháu nhà trẻ và một cháu mẫu giáo sao cho khi thể hiện kết quả trên phần mềm đảm bảo cân đối lượng P,G,L và Calo), từ đó chúng tôi tính lượng thực phẩm theo sĩ số trong ngày. Để đảm bảo Kcalo trong từng bữa, dưỡng chất cân đối trong mỗi thực đơn người xây dựng thực đơn phải lựa chọn và kết hợp thực phẩm thật khéo léo; phải nắm được dưỡng chất của từng thực phẩm, biết nhóm thực phẩm nào có ưu thế, hạn chế gì có thể kết hợp bổ sung cho nhau giúp tăng cường dinh dưỡng trong món ăn song vẫn phù hợp với mức tiền ăn 26.500đ/1 trẻ/ 1ngày. Hơn nữa, chúng tôi thấy rau xanh - những lợi ích tuyệt vời của rau xanh cũng đã được khoa học chứng minh là rất cần thiết đối với sức khỏe của người lớn cũng như trẻ em trong bữa ăn hàng ngày, nó đóng một vai trò rất quan trong trong sự phát triển cả về thể lực cũng như trí lực của trẻ. Chính vì thế tăng cường lượng rau xanh, quả chín vào trong thực đơn cho trẻ đủ theo nhu cầu khuyến nghị của viện dinh dưỡng là rất tốt, vì bé ăn nhiều rau củ quả thường có trọng lượng cơ thể thấp hơn các bé khác. Chế độ ăn uống giàu rau củ, chứa lượng calo và chất béo thấp hơn, ngăn chặn tình trạng béo phì xảy ra sớm ở bé. Bữa ăn cầu vồng chính là giải pháp giúp phòng chống bệnh tật, giúp giảm cân hiệu quả, đặc biệt với trẻ thừa cân, béo phì. Do đó giải pháp bổ sung lượng rau xanh, quả chín vào thực đơn cho trẻ để cân bằng đạm thực vật giúp giảm tỉ lệ trẻ thừa cân, béo phì là giải pháp chúng tôi lựa chọn ở trong nhà trường. Trong thời gian qua, để giảm tỷ lệ trẻ thừa cân, béo phì ngoài việc thực hiện chế độ dinh dưỡng hợp lý, phối hợp nhiều loại thực phẩm, đặc biệt tăng cường ăn nhiều rau xanh, chúng tôi chỉ đạo giáo viên tăng cường hoạt động ngoài trời, tận dụng sân trường rộng cho trẻ thỏa thích được chạy nhảy, tham gia các bài tập thể dục, các trò chơi đá bóng, ném bóng, kéo co, nhảy bao bố .vì theo nghiên cứu của viện Dinh dưỡng Quốc gia chúng tôi thấy được mối liên quan giữa tình trạng lười vận động với thừa cân béo phì ở trẻ em. Khi vận động tim hoạt động tích cực hơn, máu mang nhiều oxy, dưỡng chất cần thiết đến nuôi dưỡng các bộ phận trong cơ thể để trẻ có thân hình cân đối. Trẻ vận
- động đúng cách còn kích thích cơ quan tiêu hóa làm việc tốt hơn giúp ăn ngon miệng và hấp thu dưỡng chất hiệu quả nhất, vì vậy chúng tôi đã chỉ đạo, triển khai cho giáo viên tích cực tổ chức cho trẻ hoạt động ngoài trời kết hợp tắm nắng giúp trẻ hấp thụ VitaminD, cải thiện tầm nhìn, phòng tránh bệnh về mắt như cận thị, viễn thị .và đặc biệt là cải thiện được tình trạng trẻ suy dinh dưỡng, thừa cân, béo phì ở trẻ trong nhà trường. Như vậy có thể nói đây là những giải pháp tối ưu nhất mà chúng tôi đã lựa chọn và sử dụng nhằm để:“Nâng cao chất lượng nuôi dưỡng trẻ suy dinh dưỡng, thừa cân, béo phì trong trường mầm non có hiệu quả” b. Tính sáng tạo Trong giải pháp của chúng tôi bên cạnh việc:“Tăng cường xây dựng chế độ dinh dưỡng hợp lý” thì việc “Thay đổi hình thức tổ chức giờ ăn” giúp nâng cao chất lượng nuôi dưỡng trẻ suy dinh dưỡng, thừa cân, béo phì trong trường mầm non có hiệu quả” chính là nội dung sáng tạo của chúng tôi: Thứ nhất thay đổi hình thức tổ chức giờ ăn Giúp trẻ ăn đủ lượng, đủ chất, kích thích ăn ngon miệng và hình thành các kỹ năng tốt là tính sáng tạo. Để thực hiện được việc thay đổi hình thức tổ chức giờ ăn theo lối mòn, thành thói quen của giáo viên và trẻ chúng tôi đã nghiên cứu lựa chọn hình thức tổ chức giờ ăn để giúp trẻ hứng thú, kích thích ăn ngon miệng, hấp thu dưỡng chất tốt hơn; hình thành cho trẻ một số kỹ năng văn minh trong khi ăn như biết tự lấy đủ khẩu phần ăn, ăn đủ các nhóm thực phẩm, khéo léo khi tự lấy thức ăn, biết chờ đợi đến lượt.... Theo một số nghiên cứu sự thay đổi trạng thái ăn, khu vực ăn, hình thức ăn, tạo tâm thế tốt sẽ kích thích tiêu hóa, hấp thụ dinh dưỡng tốt hơn. Từ trước đến nay giáo viên tổ chức giờ ăn theo một lối mòn, trẻ ăn tại lớp, ngồi bàn cô chia cơm, thức ăn vào bát theo lượng mà giáo viên ước lượng theo thói quen, có bát nhiều, bát ít. Nay trẻ được thay đổi vị trí ăn (không nhất thiết ăn tại lớp, trẻ được ăn tại không gian mới sẽ hấp dẫn, phấn khởi hơn), để đảm bảo trẻ ăn đúng lượng theo độ tuổi, hình thành một số kỹ năng tốt tôi đã chỉ đạo giáo viên được tính sáng tạo nhất đáp ứng được mục đích của giải pháp. Để thực hiện được điều này đầu tiên chúng tôi xây dựng kế hoạch, phân công cụ thể, áp dụng triển khai thử nghiệm tại 2 lớp 5TA1, 5TA2. Trước kia, khi chưa thực hiện giải pháp chỉ có mỗi trẻ 1 bát, khi ăn để chung cơm, thức ăn hoặc cơm, canh vì thế khi trẻ ăn chậm thường bị vữa, không ngon. Định lượng của trẻ chia theo thói quen của giáo viên. Theo các chuyên gia dinh dưỡng để các món riêng trẻ ăn đến đâu xúc đến đó sẽ ngon hơn, hiệu quả hơn. Trước vướng mắc đó, chúng tôi đưa ra giải pháp tìm dụng cụ đong thức ăn phù hợp với định lượng xuất ăn của mỗi trẻ thay thế cho việc cân vừa mất thời gian, vừa phụ thuộc vào giáo viên không phát huy tính tự lập của trẻ. Vấn đề ăn để riêng từng món được giải quyết thay thế bằng khay 4 ngăn, Song bên cạnh đó,
- muốn giải pháp thành công đều cần có sự kết hợp giữa nhân viên nấu ăn và giáo viên trên lớp. Nhân viên nấu ăn nấu các món ăn cân đối dinh dưỡng hợp lý, tăng cường lượng rau xanh; giáo viên trao đổi với trẻ về cách thay đổi hình thức giờ ăn khác mọi ngày như đồ dùng để ăn, cách chuẩn bị bàn ăn, cách lấy thức ăn, cách ăn...; trong hoạt động góc giáo viên phải thường xuyên hướng dẫn trẻ làm lọ hoa chuẩn bị cho giờ ăn, từ đó càng tạo cho trẻ thêm phấn kích, háo hức chờ đợi đến giờ ăn (Hình ảnh 2) Thứ hai cải tiến, sáng tạo trong cách chế biến món ăn cho trẻ. Tâm lý lứa tuổi trẻ mầm non đa số thích đẹp, thích được khen tôi, nắm bắt được tâm lý này của trẻ, chúng tôi đã chỉ đạo nhân viên nấu ăn hãy luôn luôn nghĩ ra mọi cách để cải tiến cách chế biến thức ăn như rau, củ, quả có thể cắt tỉa những hình ảnh ngộ nghĩnh đáng yêu, hấp dẫn bắt mắt thu hút trẻ như cánh hoa, ngôi sao, con vật, hình vuông, tròn, tam giác, chữ nhật từ cà rốt, khoai tây, su hào, bí đỏ Nấu canh xương, thịt nhừ nhưng không nát, nước ngọt trong. Khi trẻ ăn thấy những cánh hoa, hình vuông, hình tròn, con vật Trông rất ngộ nghĩnh, hòa với màu đỏ của cà rốt, vàng của khoai tây, trắng của su hào trong bát canh, trẻ cho vào miệng tan biến, trẻ rất thích. Hay để chế biến món ăn từ thịt lợn với trẻ nhân viên nấu ăn thường phải băm xay để trẻ dễ ăn, tôi đã chỉ đạo nhân viên nấu ăn, nặn hoặc kết hợp với các thực phẩm như rau, củ, hấp xào, thịt sốt cà chua với những màu sắc hấp dẫn kích thích trẻ hứng thú với món ăn. Hoặc khi trẻ ăn món ăn bánh bao để trẻ ăn ngon miệng chúng tôi chỉ đạo nhân viên nấu ăn sưu tầm các khuôn hình để nặn ra những chiếc bánh bao có hình ảnh ngộ nghĩnh như hình những con vật, hình những bông hoa, hay hình những chiếc ô tô xinh xinh Hoặc với các món ăn hoa quả tráng miệng thay vì cắt lát, tôi đã chỉ đạo cho nhân viên nấu ăn dùng các khuôn hình để cắt thành các hình và được bày trên những chiếc đĩa thật trắng thật là xinh xắn, đáng yêu, từ đó trẻ nhìn thấy trẻ rất hào hứng, hứng thú và rất thích ăn. Ngoài ra qua tìm hiểu tâm sinh lý của nhiều trẻ tôi thấy có rất trẻ có nhiều món trẻ không thích như: ăn các món ăn chế biến từ tôm chúng tôi đã chỉ đạo nhân viên nấu ăn chế biến thịt lợn xay nhỏ sau đó trộn ít bôt chiên giòn, một ít trứng cho dễ gắn kết vào thịt nặn bao quanh con tôm chỉ để thò cái đuôi màu đỏ trông ngộ nghĩnh, đáng yêu sau đó cho chiên vàng giòn nhìn màu sắc hấp dẫn vàng của trứng, đỏ của tôm đã thu hút trẻ muốn ăn, xong khi thưởng thức lại thấy vỏ giòn, thơm, thịt mềm mềm và ngọt của tôm nên trẻ rất thích ăn, trẻ say sưa thưởng thức và ăn được hết xuất ăn của mình Từ cách cải tiến, sáng tạo khi chế biến món ăn cho trẻ tôi thấy các cháu của trường tôi rất hứng thú trong bữa ăn, ăn ngon miệng, hết xuất và điều đặc biệt các cháu rất thích được đến trường, ăn cơm ở trường với lý do: “Vì ở trường

