Một số giải pháp giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho trẻ 24-36 tháng tuổi tại trường mầm non Hoàng Văn Thụ

docx 30 trang Liên Thủy 11/12/2025 2720
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Một số giải pháp giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho trẻ 24-36 tháng tuổi tại trường mầm non Hoàng Văn Thụ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxmot_so_giai_phap_giao_duc_ki_nang_tu_phuc_vu_cho_tre_24_36_t.docx

Nội dung tài liệu: Một số giải pháp giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho trẻ 24-36 tháng tuổi tại trường mầm non Hoàng Văn Thụ

  1. TRƯỜNG MẦM NON HOÀNG VĂN THỤ ---***--- BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN Đề tài:“Một số giải pháp giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho trẻ 24-36 tháng tuổi tại trường mầm non Hoàng Văn Thụ” Họ và Tên: Mai Thị Yến – Trần Cẩm Nhung Chức vụ: Tổ trưởng – Tổ phó chuyên môn Nhà trẻ Đơn vị: Trường mầm non Hoàng Văn Thụ Ngày 30 tháng 12 năm 2022
  2. CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------- ĐƠN ĐỀ NGHỊ XÉT, CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN Năm 2022 Kính gửi: Hội đồng Chuyên môn trường mầm non Hoàng Văn Thụ Họ và tên: Mai Thị Yến Ngày, tháng, năm sinh: 18/11/1988 Chức vụ: Tổ trưởng Chuyên môn tổ Nhà trẻ Đơn vị công tác: Trường mầm non Hoàng Văn Thụ. Tên sáng kiến: “Một số giải pháp giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho trẻ 24-36 tháng tuổi tại trường mầm non Hoàng Văn Thụ” Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Hoạt động giáo dục trẻ Mầm non 1. Đồng tác giả: Họ và tên: Trần Cẩm Nhung Ngày, tháng, năm sinh: 18/12/1993 Chức vụ: Tổ phó Chuyên môn tổ Nhà trẻ Đơn vị công tác Trường mầm non Hoàng Văn Thụ. Điện thoại: DĐ: 0766367979 2. Đơn vị áp dụng sáng kiến: Tên đơn vị: Trường mầm non Hoàng Văn Thụ Địa chỉ: 83 Đinh Tiên Hoàng – Hồng Bàng – Hải Phòng I.Mô tả giải pháp đã biết: - Rèn kĩ năng tự phục vụ cho trẻ 24-36 tháng tại trường mầm non Ngọc Liệp – Quốc Oai – Hà Nội. - Một số biện pháp hình thành kỹ năng tự phục vụ cho trẻ nhà trẻ 24 - 36 tháng tuổi tại lớp 2 tuổi D1 Trường Mầm non Bản Ngoại. - Một số biện pháp hình thành kỹ năng tự phục vụ cho trẻ nhà trẻ 24 - 36 tháng tuổi ở trường mầm non trên địa bàn huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. Tác giả Chu Thị Dung - Một số giải pháp giáo dục kĩ năng sống nhằm hình thành thói quen tự lập cho trẻ nhà trẻ 24-36 tháng tuổi tạo lớp E1, trường mầm non Thiệu Thành, Thiệu Hóa, Thanh Hóa. Tác giả Ngô Thị Quyên.
  3. - Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 24 – 36 tháng tuổi trong trường mầm non. Tác giả Nguyễn Thị Hoan, trường mầm non Tam Dương. Những sáng kiến nêu trên đã đạt được kết quả đáng kể trong việc giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho trẻ 24-36 tháng. Các sáng kiến đã tập trung vào các giải pháp xây dựng Kế hoạch, lịch hoạt động, tiết dạy, xây dựng môi trường và động viên khích lệ Tuy nhiên, theo quan điểm của chúng tôi, việc đưa các nội dung hoạt động vào dạy trẻ nhằm phát triển kĩ năng tự phục vụ cho trẻ 24-36 tháng cần phải được chọn lọc cho phù hợp với khả năng của trẻ trong độ tưởi, đặc biệt là phải phù hợp với khả năng riên có của từng cá nhân trẻ. Và để Nội dung dạy trẻ 24-63 tháng kĩ năng tự phục vụ cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các giáo viên trong cùng một lớp, cùng khối, thậm chí là các cô giáo dạy trẻ ở độ tuổi 18-24 tháng hiệu quả mới có thể đạt được ở mức mong muốn. II. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận sáng kiến: 1.Nội dung giải pháp đề nghị công nhận sáng kiến: - Giải pháp 1: Lựa chọn và xây dựng mục tiêu các kỹ năng tự phục vụ phù hợp với trẻ 24-36 tháng tại lớp phụ trách. - Giải pháp 2: Giáo dục các kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mọi lúc, mọi nơi - Giải pháp 3:Xây dựng môi trường giáo dục có nhiều góc trải nghiệm cho trẻ thực hành, trải nghiệm - Giải pháp 4: Phối hợp với đồng nghiệp để rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ - Giải pháp 5: Tuyên truyền với phụ huynh duy trì luyện kỹ năng tự phục vụ cho trẻ hàng ngày khi ở nhà. 2. Tính mới, tính sáng tạo: * Tính mới: - Đề tài“Một số giải pháp giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho trẻ 24-36 tháng tuổi tại trường mầm non Hoàng Văn Thụ” chúng tôi đã nêu ở trên chưa có trong bất kì một tài liệu hay văn bản sách báo nào, không trùng với bất kì nội dung giải pháp nào đã đăng kí từ trước hay đã được áp dụng hoặc áp dụng thử. - Chưa bị bộc lộ công khai trong các văn bản, sách báo, tài liệu kĩ thuật đến mức căn cứ vào đó có thể thực hiện ngay được. - Không trùng với giải pháp của người khác đã được áp dụng hoặc áp dụng thử, hoặc đưa vào kế hoạch áp dụng, phổ biến hoặc chuẩn bị các điều kiện để áp dụng, phổ biến. - Chưa được quy định thành tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm bắt buộc phải thực hiện. * Tính sáng tạo:
  4. - Đề tài“Một số giải pháp giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho trẻ 24-36 tháng tuổi tại trường mầm non Hoàng Văn Thụ”là một giải pháp sáng tạo của chúng tôi đã được áp dụng từ tháng 9/2022. - Khi áp dụng đề tài này, chúng tôi sáng tạo thêm hình thức xây dựng môi trường giáo dục có nhiều góc trải nghiệm, thực hành để trẻ được thoải mái lựa chọn đồ chơi, kích thích trẻ tích cực khám phá tạo cơ hội cho trẻ được rèn luyện, củng cố các vận động tinh để áp dụng vào các kĩ năng tự phục vụ. - Ngoài ra, chúng tôi tích hợp các bài thơ ngắn, góp phần phát triển ngôn ngữ cho trẻ tạo tiền đề cho việc thể hiện nhu cầu của bản thân trẻ bằng lời nói. Qua việc luyện tập các kỹ năng tự phục vụ các kỹ năng khác cũng dần được hình thành và phát triển như: kỹ năng phối hợp, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết các vấn đề...Như vậy có thể khẳng định rằng giáo dục kỹ năng tự phục vụ góp phần hình thành và phát triển toàn diện nhân cách cho trẻ. 3. Hiệu quả, lợi ích thu được do áp dụng giải pháp a. Hiệu quả kinh tế: Sau khi áp dụng các giải pháp của đề tài chúng tôi thấy không tốn kém chi phí, không mất nhiều tiền đầu tư bởi vì mọi hình ảnh các con hoạt động ở lớp được chụp lại bằng điện thoại và gửi online cho phụ huynh qua nhóm Zalo của lớp, không cần in ảnh ra từng tấm để cho phụ huynh xem tiết kiệm giấy mực, các bài giảng, trò chơi, bài thơ do cô giáo tự thiết kế hoặc tìm trên kho học liệu miễn phí của thành phố nên không mất tiền mua. Hầu hết đồ dùng đồ chơi của trẻ được tái chế lại từ các nguyên vật liệu đa dạng phong phú mà phụ huynh ủng hộ, không tốn kém chi phí. Tiết kiệm thời gian cho mọi gia đình vì trẻ có kĩ năng tự phục vụ cha mẹ mới yên tâm công tác và làm việc. b. Hiệu quả về mặt xã hội: - Giáo viên lựa chọn đúng những kỹ năng tự phục vụ phù hợp với trẻ. - Tạo mối quan hệ thân thiết gần gũi giữa cô và trẻ, tạo sự đoàn kết giữa các giáo viên trong lớp với nhau, nâng cao tinh thần hợp tác, phối hợp. - Trình độ chuyên môn của mỗi giáo viên được trau dồi, phát triển tích cực hơn. Quan trọng hơn cả là tạo được niềm tin đối với phụ huynh. - Giúp trẻ tự tin hơn, dễ hòa nhập hơn khi đến với môi trường mới. Trẻ được thỏa mãn nhu cầu tự lập, tự mình làm mọi thứ cho bản thân. - Trẻ nhận biết được kí hiệu đồ dùng cá nhân của bản thân. - Trẻ biết phối hợp cùng cô để thực hiện kỹ năng, biết giúp đỡ những bạn chưa biết. Biết thể hiện nhu cầu của bản thân với cô giáo. c. Giá trị làm lợi khác:
  5. Các kiến thức và thông tin về việc chăm sóc- giáo dục trẻ được phổ biến rộng rãi miễn phí, và có thể làm tài liệu tham khảo cho động nghiệp, làm nội dung tuyên truyền kiến thức chăm sóc giáo trẻ dành cho phụ huynh. 4. Khả năng nhân rộng: Đề tài áp dụng trên mọi trẻ 24-36 tháng tuổi nói chung và trẻ 24- 36 tháng tuổi tại Trường Mầm non Hoàng Văn Thụ nói riêng. TÁC GIẢ SÁNG KIẾN Mai Thị Yến Trần Cẩm Nhung
  6. BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN I. THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN 1. Tên sáng kiến: “Một số giải pháp giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho trẻ 24- 36 tháng tuổi tại trường mầm non Hoàng Văn Thụ” 2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:Giáo dục TC-KNXH 3. Tác giả: Họ và tên: Mai Thị Yến Ngày, tháng, năm sinh: 18/11/1988 Chức vụ, đơn vị công tác: Tổ trưởng Chuyên môn tổ Nhà trẻ - Trường mầm non Hoàng Văn Thụ. Điện thoại: 0931581188 4. Đồng tác giả: Họ và tên: Trần Cẩm Nhung Ngày, tháng, năm sinh: 18/12/1993 Chức vụ, đơn vị công tác: Tổ phó Chuyên môn tổ Nhà trẻ - Trường mầm non Hoàng Văn Thụ. Điện thoại: 0766367979 5. Đơn vị áp dụng sáng kiến: Tên đơn vị: Trường mầm non Hoàng Văn Thụ Địa chỉ: 83 Đinh Tiên Hoàng – Hồng Bàng – Hải Phòng II. Mô tả giải pháp đã biết: Trong những năm gần đây, giáo dục kỹ năng sống, đặc biệt là giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mầm non, đặc biệt là đối với trẻ tuổi 24-36 tháng tuổi đã nhận được nhiều sự quan tâm của toàn xã hội. Tất cả các bậc làm cha, mẹ khi sinh con ra đều mong muốn con mình được khỏe mạnh, được chăm sóc, giáo dục trong môi trường tốt nhất, dành mọi điều kiện tốt nhất cho con học tập và phát triển nhân cách, hình thành những thói quen tốt đặt nền móng cho con mình trưởng thành, thành công trong cuộc sống sau này. Nhưng mấy ai hiểu được rằng giáo dục con trẻ cần phải được thực hiện ngay từ khi còn nhỏ, từ những việc tưởng chừng như rất đơn giản và đòi hỏi người lớn cần kiên trì, nhẫn nại, bao dung với những lúc trẻ làm sai, làm hỏng. Hòa mìnhvới guồng quay của công việc, của đời sống xã hội hiện đại nhiều phụ huynh tiết kiệm thời gian và nuông chiều con bằng cách, làm giúp trẻ tất cả mọi việc như: đi giày, dép cho con; bón cho con ăn; cất dọn đồ chơi cho con...Dần dần các bậc cha mẹ đã hình thành cho con trẻ những thói quen ỷ lại vào người lớn, thiếu tính tự lập, thiếu tự tin vào bản thân mình.
  7. Việc tạo thói quen tự phục vụ cho trẻ đã được nhiều đơn vị giáo dục quan tâm. Đã có nhiều giáo viên đã áp dụng một số giải pháp nhằm mục đích Giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho trẻ 24-36 tháng. Có thể kể đến một số sáng kiến tiêu biểu sau: - Rèn kĩ năng tự phục vụ cho trẻ 24-36 tháng tại trường mầm non Ngọc Liệp – Quốc Oai – Hà Nội. - Một số biện pháp hình thành kỹ năng tự phục vụ cho trẻ nhà trẻ 24 - 36 tháng tuổi tại lớp 2 tuổi D1 Trường Mầm non Bản Ngoại. - Một số biện pháp hình thành kỹ năng tự phục vụ cho trẻ nhà trẻ 24 - 36 tháng tuổi ở trường mầm non trên địa bàn huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. Tác giả Chu Thị Dung - Một số giải pháp giáo dục kĩ năng sống nhằm hình thành thói quen tự lập cho trẻ nhà trẻ 24-36 tháng tuổi tạo lớp E1, trường mầm non Thiệu Thành, Thiệu Hóa, Thanh Hóa. Tác giả Ngô Thị Quyên. - Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 24 – 36 tháng tuổi trong trường mầm non. Tác giả Nguyễn Thị Hoan, trường mầm non Tam Dương. Những sáng kiến nêu trên đã đạt được kết quả đáng kể trong việc giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho trẻ 24-36 tháng. Các sáng kiến đã tập trung vào các giải pháp xây dựng Kế hoạch, lịch hoạt động, tiết dạy, xây dựng môi trường và động viên khích lệ Tuy nhiên, theo quan điểm của chúng tôi, việc đưa các nội dung hoạt động vào dạy trẻ nhằm phát triển kĩ năng tự phục vụ cho trẻ 24-36 tháng cần phải được chọn lọc cho phù hợp với khả năng của trẻ trong độ tưởi, đặc biệt là phải phù hợp với khả năng riên có của từng cá nhân trẻ. Và để Nội dung dạy trẻ 24-63 tháng kĩ năng tự phục vụ cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các giáo viên trong cùng một lớp, cùng khối, thậm chí là các cô giáo dạy trẻ ở độ tuổi 18-24 tháng hiệu quả mới có thể đạt được ở mức mong muốn. Qua khảo sát hoạt động tự phục vụ của trẻ 24 – 36 tháng trước khi áp dụng sáng kiến (đối với 42 trẻ ở độ tuổi 24-36 tháng tuổi tại trường Mầm non Hoàng Văn Thụ) chúng tôi đã tổng hợp được kết quả sau: Số trẻ đã Tỉ lệ STT Các kĩ năng tự phục vụ làm được 1 Xếp hàng rửa mặt, rửa tay 11/42 26% 2 Tự cầm cốc uống nước, uống sữa 13/42 31% 3 Tự cầm thìa xúc cơm ăn 11/42 26% 4 Chuẩn bị chỗ ngủ 14/42 33% 5 Tự đi dép, tháo dép, cất dép đúng nơi quy 14/42 33%
  8. định 6 Đi vệ sinh đúng nơi quy định 10/42 23% Tập nói với cô giáo khi có nhu cầu: uống 7 12/42 28% nước, đi vệ sinh... Trước kết quả khảo sát trên, đồng thời tìm hiểu các sáng kiến cùng nội dung của các đồng nghiệp khác, chúng tôi đã đặt ra giải pháp “Một số giải pháp giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho trẻ 24-36 tháng tuổi tại trường mầm non Hoàng Văn Thụ”nhằm giúp trẻ giúp trẻ hình thành thói quen tốt, nâng cao tính tự giác, đồng thời phát triển tính nhanh nhẹn, mạnh dạn cho trẻ. III. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận sáng kiến 1. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận sáng kiến Giải pháp 1: Lựa chọn và xây dựng mục tiêu các kỹ năng tự phục vụ phù hợp với trẻ 24-36 tháng tại lớp phụ trách. Trẻ ở độ tuổi này còn nhỏ, các bộ phận trên cơ thể vẫn đang tiếp túc được phát triển hoàn thiện hơn. Do vậy, các kĩ năng vận động của trẻ còn rất đơn giản và lóng ngóng. Ở độ tuổi này, trẻ bắt đầu có mong muốn được tự mình làm những việc mà trẻ thích, trẻ thấy tò mò và muốn khám phá. Do vậy, trẻ cũng rất dễ có thể tự gây thương tích cho bản thân nếu như tự mình làm một việc gì đó mà không có sự giúp đỡ của người lớn. Trước đặc điểm tâm lý lứa tuổi đó, việc đầu tiên quan trọng để có thể giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho trẻ, giáo viên cần phải lựa chọn hành động và xây dựng các mục tiêu phù hợp với khả năng của trẻ. Những nội dung chúng tôi đã lựa chọn để giáo dục trẻ: - Xếp hàng rửa mặt, rửa tay: Trẻ biết xếp hàng theo sự hướng dẫn của cô. Cuối năm trẻ biết 1 số thao tác rửa mặt, rửa tay đơn giản. Việc xếp hàng không phải là việc khó đối với trẻ, bởi nó không đòi hỏi trẻ phải thực hiện các kĩ năng quá phức tạp và đòi hỏi phải có kĩ thuật cao mới làm được. Hoạt động này yêu cầu trẻ biết được việc mình sẽ phải thực hiện nhiệm vụ của mình theo thứ tự, khi đến lượt. Điều quan trọng là hình thành cho trẻ ý thức giữ gìn vệ sinh cá nhân bản thân. Giáo dục hành vi này ngay từ lứa tuổi nhỏ cũng sẽ góp phần cho việc tạo nên thói quen và hình thành người công dân văn minh, lịch sự sau này. - Tự cầm cốc uống nước, uống sữa: Trẻ biết tự cầm cốc bằng 2 tay để uống mà không cần sử dụng ống hút, không làm đổ nước, sữa khi uống. Đối với trẻ 24-36 tháng, nhu cầu uống sữa, uống nước là rất lớn. Một ngày trẻ có thể liên tục đòi uống sữa và uống nước và bắt đầu thích được tự cầm ca/cốc để tự uống. Chúng tôi đã lựa chọn nội dung này để đưa vào hướng dẫn trẻ cách cầm ca/cốc như thế nào để không bị đổ nước/sữa ra ngoài, làm thế nào để có thể uống được bằng ca/cốc mà không bị tràn ra miệng của trẻ gây mất vệ sinh
  9. - Tự cầm thìa xúc cơm ăn: Trẻ tập cầm thìa bằng tay phải, giữ bát bằng tay trái, tập xúc ăn, không làm rơi vãi cơm, thức ăn ra bàn. Ở độ tuổi này, nhiều trẻ cũng rất thích được tự cầm thìa xúc ăn, thậm chí có trẻ còn rất thích được nghịch đũa để chọc/xều vào bát cơm. Với khả năng của trẻ, nếu không được hướng dẫn cẩn thận thì trẻ sẽ dễ làm cho cơm vung vãi khắp nơi. - Chuẩn bị chỗ ngủ: Trẻ biết giúp cô lấy gối, xếp gối. Tự nằm ngủ. Hoạt động này cũng rất phù hợp với khả năng của trẻ, bởi chiếc gối thường rất nhẹ, và thường được sắp xếp ở vị trí dễ lấy dễ cất. Tuy nhiên, công việc này cũng luôn cần sự giám sát và giúp đỡ kịp thời của giáo viên để luôn đảm bảo được an toàn cho trẻ. - Tự đi dép, tháo dép, cất dép đúng nơi quy định.Trẻ biết chọn đúng dép của mình,biết xỏ dép vào chân bằng 2 tay. Khi đi xong biết cầm 2 chiếc dép cất lên giá để dép. Việc dạy trẻ tự đi dép ngay từ lứa tuổi này, góp phần giúp trẻ có ý thức giữ gìn vệ sinh cá nhân và an toàn cho bản thân. - Đi vệ sinh đúng nơi quy định: Việc giáo dục trẻ đi vệ sinh đúng nơi qui định là góp phần giáo dục bảo vệ môi trường ngay từ lứa tuổi mầm non. Hình thành nhân cách của con người văn minh, hiện đại từ những việc tưởng chừng như rất đơn giản và nhỏ bé. + Bé trai biết tiểu đứng, không tiểu ra ngoài. + Bé gái biết ngồi lên bồn cầu. Khi tiểu xong đứng lên kéo quần. + Trẻ tập nói với cô giáo khi có nhu cầu:uống nước, đi vệ sinh... + Trẻ biết gọi cô khi đại tiện xong. Trên đây là những hành vi tự phục vụ mà chúng tôi đã lựa chọn để dạy trẻ 24-36 tháng nhằm hình thành cho trẻ kĩ năng tự phục vụ. Bên cạnh đó còn một số kĩ năng khác như: bê – cất ghế, lấy – cất đồ chơi đúng nơi qui định Giải pháp 2: Giáo dục các kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mọilúc, mọi nơi a. Giáo dục kỹ năng tự phục qua giờ học Trong năm học này chúng tôi và đồng nghiệp mạnh dạn xây dựng nhiều giờ học kỹ năng tự phục vụ cho trẻ 24-36 tháng, hoạt động này được ban giám hiệu và đồng nghiệp ghi nhận, đánh giá cao: kỹ năng đi dép, cất dép,kỹ năng cầm thìa xúc cơm bằng tay phải, kĩ năng bê-cất ghế, kĩ năng cất đồ chơi đúng nơi quy định... Để giờ học không gò bó, trẻ vừa học vừa chơi, trong các giờ học kỹ năng chúng tôi thường tổ chức cho trẻ dưới hình thức chơi trò chơi. Đồ dùng cho trẻ thực hiện là những đồ dùng thật, liên quan đến các hoạt động sinh hoạt của trẻ hàng ngày như: giày, dép, cốc, bát, thìa, ghế, đồ chơi...Sau khi gây hứng thú cho trẻ vào bài, cô giáo sẽ làm mẫu, sau đó cho trẻ thực hiện, cô giáo bao quát và hướng dẫn trẻ, nếu trẻ chưa làm được cô cầm tay trẻ đồng thời khuyến khích trẻ
  10. để trẻ có hứng thú thực hiện tốt hơn. Động viên những trẻ thực hiện tốt hướng dẫn bạn cùng thực hiện. Ví dụ: Giờ dạy kỹ năng đidép cô giáo sẽ nói: “Hôm nay các bạn sẽ đóng vai làm anh, chị của em búp bê, đưa búp bê đi chơi, trước khi đi chơi phải đi dép, giày cho búp bê, sau đó đi dép, giày cho mình” sau đó cô giáo hướng dẫn cụ thể cho trẻ.Kết thúc, cô giáo cho trẻ đọc bài thơ "đi dép" hoặc hát bài "đôi dép xinh" trẻ vừa đi vừa hát đến chỗ giá để dép thì tháo dép cất lên giá. Khi thực hiện giáo dục kỹ năng qua các giờ họctrẻ được trực tiếp thực hiện các yêu cầu cô đưa ra và tỏ ra rất hứng thú. Qua đó, trẻ nhanh chóng nắm bắt được các kỹ năng một cách nhẹ nhàng không bị ép buộc. Giáo viên tích cực thay đổi hình thức, phương pháp giáo dục phù hợp với từng cá nhân trẻ. Cô giáo có thể so sánh khả năng thực hiện của những trẻ trong nhóm giảng dạy, nhanh chóng phát hiện ra trẻ làm tốt và chưa làm tốt để điều chỉnh phương pháp hướng dẫn cho phù hợp với từng cá nhân.Đặc biệt, đối với độ tuổi này, trẻ được phép thử và làm sai, giáo viên phải là người luôn sát cánh bên trẻ và hướng dẫn giúp đỡ trẻ kịp thời khi cần thiết. b. Lấy và cất đồ dùng đồ chơi đúng nơi quy định. * Thông qua hoạt động đón – trả trẻ: Trong hoạt động đón trẻ chúng tôi vừa giao tiếp với trẻ, trao đổi với phụ huynh đồng thời hướng dẫn trẻ cất dép vào đúng vị trí đã quy định. Ví dụ: Trong giờ đón trẻ, lớp tôi còn có những trẻ khóc thì tôi sẽ hướng dẫn phụ huynh để dày dép và ba lô của trẻ vào tủ, khi trẻ đã ngoan, không khócchúng tôi sẽ dẫn trẻ đến chỗ để dép và hướng dẫn các con cất dép lên giá – nơi có kí hiệu hình đôi dép.Sau đó tôi có thể nói cho trẻ biết các bước cất đồ dùng cá nhân như:mũ, dép, áo khoác đúng nơi quy định và cho trẻ thực hiện luôn. Cô giải thích cho trẻ việctrẻ cất không đúng sẽ làm cho lớp học không được đẹp Giờ trả trẻ, cô sửa lại quần áo, đầu tóc cho trẻ gọn gàng, sạch sẽ trong thời gian chờ đợi bố mẹ đến đón. Không phải lúc nào cũng là bố mẹ trẻ đón, có lúc là ông, bà, cô, chú đến đón trẻ sẽ không nhận ra đồ dùng của trẻ nên đặc biệt cô phải hướng dẫn cho trẻ thói quen nhận biết đồ dùng cá nhân và lấy đúng đồ dùng của mình khi ra về bằng các câu hỏi: Con hãy lấy mũ của mình, hay là “Dép của con là dép nào có hình gì?” ... * Thông qua hoạt động chơi ở các khu vực chơi trong lớp. Vào giờ chơi tập buổi sáng trẻ sẽ “bộc lộ” sự sáng tạo của mình trong khi chơi. Khi bắt đầu chơi tôi cho trẻ chọn khu vực chơi và lấy đúng đồ chơi của khu vực đó “Khu vực này cần những đồ chơi gì? Con và các bạn cùng lấy đồ chơi ra để chơi nào...”. Đồng thời khi chơi xong tôi sẽ hướng dẫn trẻ cất đồ chơi
  11. đúng nơi quy định bằng các câu hỏi như: Bây giờ con sẽ để đồ chơi này ở đâu? Và để đồ chơi như thế nào?...Lúc đầu tôi sẽ hướng dẫn, cùng trẻ lấy và cất đồ dùng đồ chơi, khi trẻ đã quen tôi sẽ để cho trẻ cùng nhau lấy và cất những đồ dùng đồ chơi đó vào đúng vị trí của chúng. * Hoạt động chơi tập buổi chiều. Có thể cho trẻ xem băng hình về việc cất đồ dùng, đồ chơi. Cô giáo cũng có thể làm thao tác mẫu và cho trẻ thực hiện cùng cô.Sau mỗi lần trẻ lấy và cất đồ dùng, đồ chơi đúng nơi quy định trong mỗi hoạt động thì tôi đã khen ngợi và tuyên dương trẻ, trẻ rất vui, tự tin và thoải mái. Trẻ cảm thấy có động lực với những việc mà trẻ cố gắng làm. Việc rèn trẻ cất dọn đồ dùng, đồ chơilồng ghép vào các hoạt động trong ngày như vậy, đã tạo cho trẻ thói quen trong công việc hàng ngày, trẻ có ý thức hơn trong những công việc đơn giản, phù hợp với khả năng của trẻ, từ đó hình thành cho trẻ kĩ năng tự phục vụ rất cần thiết cho bản thân trẻ. c. Xếp hàng rửa mặt, rửa tay – Giờ vệ sinh. Trước mỗi giờ ăn, chúng tôi đã phối hợp với giáo viên trong lớp luyện cho trẻ biết xếp hàng theo bàn để các cô làm công tác vệ sinh cho từng trẻ. Bước đầu thực hiện còn gặp nhiều khó khăn, những ngày đầu đến lớp mỗi khi chuyển hoạt động trẻ đều khóc nhè, giáo viên trong lớp phải dỗ dành trẻ, hướng dẫn trẻ đứng vào đúng vị trí, khả năng tập trung chú ý của trẻ chưa cao, trẻ chỉ xếp hàng được một lát là quên ngay vị trí đứng của mình, thậm chí có trẻ không chịu xếp hàng.Để khắc phúc điều đó, chúng tôi thường phân công nhau 1 cô rửa tay cho trẻ, 1 cô vừa rửa mặt cho trẻ vừa bao quát, hướng cho trẻ đứng vào hàng. Ví dụ: Trước khi xếp hàng chúng tôi thường đọc bài thơ "Xếp hàng" Chúng em tập xếp hàng Không xô đẩy chen ngang Nghe lời cô hướng dẫn Chúng em đứng thẳng hàng. Khi đã cho trẻ đứng vào hàng, cô sẽ nói "con tiến lên đây để cô rửa tay cho con" rửa tay xong cô nói "con đứng ở đây để rửa mặt nhé". Việc làm này được chúng tôi thực hiện hàng ngày lặp đi lặp lại sẽ nhanh chóng hình thành nề nếp, thói quen cho trẻ. Sau khi được cô hướng dẫn cách xếphàng,đến giờ vệ sinh trẻ biết xếp hàng theo hướng dẫn của cô, không còn hiện tượng chạy lung tung khi đang xếp hàng, biết chờ đến lượt để rửa tay, rửa mặt, không chen lấn xô đẩy bạn trong hàng, không đùa nghịch với bạn. Trẻ còn nhỏ, sự tập trung, chú ý chưa cao, một số chưa kiên nhẫn để chờ đến lượt.Trẻ hiếu động, không chịu hợp tác, cô giáo cần luôn luôn bao quát, nhắc nhở trẻ.
  12. d. Tự cầm cốc uống nước, uống sữa Trẻ thích được tự làm mọi việc liên quan đến bản thân mình trong đó có việc tự cầm ca/cốc uống nước, uống sữa. Nhưng rất nhiều trẻ chưa biết cách cầm cốc dẫn đến việc trẻ làm rơi cốc, đổ nước, đổ sữa. Trước khi đưa cốc sữa, cốc nước cho trẻ cầm chúng tôi thường dặn trẻ cầm cốc bằng 2 tay, nếu trẻ nào chưa biết cầm thì cô cầm tay trẻ để vào thành cốc và nói "con cầm cốc bằng 2 tay để khỏi rơi" và động viên trẻ uống hết sữa. Và chúng tôi cũng không quên nhắc trẻ khi uống nước, sữa thì ngồi yên 1 chỗ không đi lại, tránh va vào bạn sẽ làm đổ hoặc sặc nước, sữa.Uống xong, cô nhắc trẻ nhẹ nhàng để cốc vào khay để đem rửa. e. Tự cầm thìa xúc cơm ăn - Giờ ăn Sử dụng thìa để xúc cơm ăn là một kỹ năng phức tạp đối với trẻ, đòi hỏi cần phải được luyện tập thường xuyên. Thời gian cho trẻ ăn được diễn ra trong khoảng một giờ đồng hồ. Có thể nói để hướng dẫn trẻ thuần thục được kỹ năng là một vấn đề lớn đối với giáo viên, đòi hỏi cô giáo phải kiên nhẫn. Đầu năm, khi mới tập cho trẻ cầm thìa nên cơm rơi vãi nhiều. Một vài trẻ không tự giác cầm thìa xúc cơm cần cô giáo phải nhắc nhở liên tục, còn có hiện tượng trẻ xúc cơm sang bát của bạn. Đôi khi còn làm rơi bát cơm do trẻ trêu đùa nhau trong giờ ăn, do cô giáo chưa bao quát kịp thời và nhắc trẻ kéo ghế sát bàn. Đối với trẻ chưa biết cầm thìa xúc cơm: Cô vừa làm vừa phân tích cho trẻ biết cách cầm thìa bằng tay phải: Cầm thìa bằng 3 ngón tay, cầm vào giữa cán thìa, tay trái giữ bát. Đưa thìa vào bát, xúc ít cơm và thức ăn, nhấc thìa lên một chút, dừng lại để cơm không rơi ra ngoài sau đó từ từ đưa thìa có cơm và thức ăn lên miệng cho vào miệng ăn. Cứ như vậy xúc hết cơm trong bát. Cô nhắc trẻ ăn chậm, nhai kĩ. Khi trẻ đã xúc được cô động viên trẻ. Đối với trẻ đã biết cầm thìa nhưng chưa tự giác xúc cơm ăn: Cô luôn bao quát trong giờ trẻ ăn, động viên, khuyến khích trẻ tự cầm thìa xúc cơm ăn như: "Nào chúng mình cùng thi đua nhau xem bạn nào biết xúc cơm ăn giỏi nhé". Thường xuyên nói "con cầm thìa xúc cơm ăn đi"... Trẻ rất thích được khen giỏi, khen ngoan. Kỹ năng này chúng tôi luyện cho trẻ mỗi ngày vào mỗi bữa ăn. Trẻ được thỏa mãn nhu cầu tự cầm thìa xúc cơm ăn, rất nhiều trẻ không làm rơi vãi cơm ra bàn hoặc biết nhặt cơm rơi vãi vào đĩa và lau tay sạch sẽ. Trẻ biết cầm thìa đúng cách. Hứng thú với giờ ăn cơm, luôn ăn hết suất, chiều cao cần nặng tăng đều theo tháng. f. Chuẩn bị chỗ ngủ Giờ ngủ của trẻ 24-36 tháng được diễn ra trong khoảng thời gian từ 120 phút đến 150 phút. Để có thể hướng dẫn trẻ tự phục vụ giờ ngủ của mình, trước khi ngủ chúng tôi cho trẻ đọc cùng cô bài thơ "Đi ngủ":
  13. Giờ đi ngủ Em lên giường Nằm lặng im Hai mắt nhắm Ngủ cho say" Sau đó, chúng tôi đưa trò chơi “Tìm gối”. Cho trẻ tự đi tìm và phát hiện ra vị trí cất gối của lớp. Hỏi trẻ: Làm thế nào để lấy được gối? Với những chiếc gối để ở vị trí cao, cô giáo giúp trẻ lấy và đưa cho trẻ tự mang về chỗ ngủ, những chiếc gối vừa tầm với của trẻ, tôi để cho trẻ tự lấy. Khi trẻ ngủ dây, tôi cũng cho trẻ tự đi tìm chỗ cất gối và mang vào tận nơi, cô giáo sẽ là người cất giúp trẻ. Cô giáo luôn phải bám sát mọi hành động của trẻ để đảm bảo được an toàn trong quá trình trẻ lấy/gối và nhắc nhở trẻ không được để gối rơi xuống đất để chiếc gối của mình luôn được sạch sẽ, thơm tho. g. Tự đi giày dép, tháo dép, cất dép đúng nơi quy định Tự đi giày dép là một kỹ năng tự phục vụ quan trọng để góp phần hình thành tính tự lập của trẻ. Vì vậy chúng tôi đã hướng dẫn và cho trẻ thực hiện thường xuyên hàng ngày để tạo thói quen: biết chọn đúng dép của mình,biết xỏ dép vào chân bằng 2 tay, biết cầm 2 chiếc dép cất lên giá một cách ngay ngắn. Để hình thành được kỹ năng này chúng tôi thường xuyên trao đổi, khuyến khích phụ huynh để trẻ tự làm. Thời gian đầu trẻ còn nhiều bỡ ngỡ, lóng ngóng chưa biết đi, tháo giày, dép. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn kiên trì tiếp tục cho trẻ được tự thực hiện. Động viên, khích lệ phụ huynh cùng phối hợp với cô giáo để dạy trẻ biết tự lấy/cất dẹp đúng nơi qui định. h. Đi vệ sinh đúng nơi quy định Việc tự chủ trong điều khiển các chức năng bài tiết như "đi nặng", "đi nhẹ" sẽ đánh dấu được bước tiến lớn trong quá trình phát triển của các bé và chắc chắn đây là mong muốn chung của các bậc làm cha, làm mẹ và của các cô giáo trong trường mầm non nói chung và của các cô giáo chăm sóc-giáo dục trẻ lứa tuổi nhà trẻ nói riêng Tuy nhiên để có thể giúp cho các bé biết kiểm soát được quá trình này một cách tự chủ thì đòi hỏi người hướng dẫn phải kiên nhẫn và phải có hiểu biết về tâm sinh lý của trẻ. Ở lớp, các con được trang bị bồn cầu nhỏ, ngoài ra các bé trai được trang bị bồn tiểu đứng với độ cao và kích thước phù hợp với trẻ 24-36 tháng tuổi. Đối với trẻ mới làm quen với bồn cầu: Không cho ngồi lâu quá 5 phút, không đùa giỡn để trẻ có thể tập trung, lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ tạo cho trẻ phản xạ có điều kiện hình thành cho trẻ thói quen đi vệ sinh đúng giờ, đúng nơi quy định. Trường hợp trẻ không chịu hợp tác: Khóc, không chịu ngồi lên bồn cầu, chỉ tè dầm ra quần...lúc này cô giáo cần khéo léo khuyến khích trẻ ngồi
  14. thêm 1 chút xíu: có thể cho trẻ cầm đồ chơi trẻ thích. Khi cô đã làm hết cách mà trẻ vẫn không chịu ngồi bồn cầu thì phải tìm hiểu lý do của trẻ: có thể trẻ bị táo bón, hoặc là trẻ thấy không giống bô của trẻ ở nhà....sau đó cô khắc phục và giải thích cho trẻ để trẻ cảm thấy thoải mái khi ngồi vào bồn cầu. Với bé trai, tôi hướng dẫn trẻ "tiểu" đứng, nhắc trẻ hướng nước tiểu vào bồn tiểu, tránh rớt ra ngoài.Với bé gái, chúng tôi hướng dẫn trẻ ngồi vào bồn cầu đúng cách, thường xuyên nhắc trẻ trước khi ngồi xuống hoặc đứng lên thì cầm chun quần, kéo quần xuống (lên), và từ từ ngồi xuống (hoặc đứng lên) . Hiện tượng trẻ đi vệ sinh tự do giảm dần và thay vào đó là trẻ đi vệ sinh đúng giờ, đúng nơi. Trẻ luôn sạch sẽ khi ở lớp. Giáo viên đỡ vất vả khi phải dọn dẹp quần áo bẩn của trẻ hay chăn chiếu ướt. k. Tập nói với cô giáo khi có nhu cầu: ăn, uống nước, đi vệ sinh. Trong mỗi bữa ăn, khi chia cơm cho trẻ chúng tôi đều nhắc trẻ bạn nào ăn hết rồi và muốn ăn nữa thì bảo cô "cô ơi con ăn nữa", uống nước cũng vậy hàng ngày chúng tôi cho trẻ uống nước theo nhu cầu của trẻ, đặc biệt là thời tiết mùa hè, khi ở lớp giáo viên cho trẻ uống nước thường xuyên và tránh để trẻ bị khát, chúng tôi cũng thường xuyên nhắc trẻ khi nào muốn uống thì bảo cô "cô ơi con uống nước". Mỗi lần cho trẻ đi vệ sinh chúng tôi đều nhắc trẻ nếu muốn đi vệ sinh thì con gọi cô "cô ơi con vệ sinh". Nhiều cô sẽ thấy khó chịu khi phải thu dọn "sản phẩm" của trẻ, thay vì trạng thái căng thẳng đó, cô nên nhẹ nhàng nói và chỉ cho trẻ biết "sản phẩm"của trẻ là bẩn còn chỗ các bạn đang chơi vui vẻ là sạch sẽ. Việc dạy trẻ nói những câu ngắn để thể hiện nhu cầu của bản thân giúp trẻ tự chủ được khi mình có nhu cầu ăn, uống, đi vệ sinh...giáo viên đáp ứng kịp thời nhu cầu của trẻ. Hạn chế việc trẻ đi vệ sinh tự do, cô giáo không mất nhiều thời gian để làm sạch những chỗ bẩn của trẻ. Một số trẻ chưa biết nói chỉ biết thể hiện nhu cầu bằng cử chỉ, hành động: giơ bát lên cao khi ăn hết cơm, dùng thìa gõ bát... Một số biết chỉ nói được 1 từ như: ăn, đái, ị...Những lúc này cô cần chú ý bao quát trẻ tốt để đáp ứng kịp thời nhu cầu của trẻ. Tóm lại, các hình thức để giáo dục kỹ năng tự phục vụ được sử dụng linh hoạt, đan xen một cách hợp lý để phù hợp với từng kỹ năng cụ thể và đặc điểm tâm sinh lý của từng cá nhân trẻ qua đó giúp cô và trẻ gần gũi nhau hơn, cô nắm được các thói quen sinh hoạt hàng ngày của trẻ, giúp trẻ hoàn thiện bản thân mỗi ngày. Đôi khi giáo viên chưa bao quát trẻ kịp thời. Ngoài ra tôi còn theo dõi trẻ hàng ngày, ghi chép lại trong một quyển sổ riêng để nắm được mức độ thuần thục các kỹ năng tự phục vụ của trẻ khi ở lớp, sự khó khăn, những nguyên nhân cụ thể trong quá trình học kỹ năng tự phục vụ
  15. của trẻ qua đó điều chỉnh các phương pháp giáo dục cho phù hợp với từng cá nhân trẻ. Đồng thời giúp cho giáo viên biết được hiệu quả của việc giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ qua đó làm cơ sở để trao đổi với phụ huynh về tình hình của trẻ khi ở lớp. Do trẻ còn nhỏ, sức đề kháng chưa tốt lắm nên có một vài trẻ đi học không đều ảnh hưởng đến việc rèn luyện các kỹ năng tự phục vụ, trẻ còn nhỏ dễ nhớ mau quên đòi hỏi giáo viên phải kiên nhẫn với trẻ. Các kỹ năng tự phục vụ được hình thành và rèn luyện cho trẻ mọi lúc, mọi nơi nên trẻ mạnh dạn, tự tin chủ động tham gia vào các hoạt động trong ngày, qua đó trẻ học được kỹ năng phối hợp cùng cô, cùng bạn, trẻ có ý thức tổ chức kỷ luật tốt, quen dần với thời gian biểu của lớp giờ nào việc nấy. Trẻ đạt được các mục tiêu, yêu cầu mà cô đưa ra, cô cũng hiểu được nhu cầu của trẻ để đáp ứng trẻ kịp thời. Giải pháp 3: Xây dựng môi trường giáo dục có nhiều góc trải nghiệm cho trẻ thực hành, trải nghiệm Như chúng ta đã biết hoạt động chủ đạo của trẻ 24-36 tháng là hoạt động với đồ vật, trẻ dễ bị thu hút bởi những đồ dùng, đồ chơi mới lạ, màu sắc bắt mắt. Chúng ta cũng dễ dàng nhận thấy tất cả những kỹ năng tự phục vụ của trẻ hầu hết đều liên quan đến các vận động tinh: sự khéo léo của các ngón tay, bàn tay cổ tay, cài mở cúc, kéo khóa, bấm cúc, vặn nắp....Vì vậy khi người lớn cho trẻ thực hành, trải nghiệm, khám phá đồ dùng, đồ chơi tức là chúng ta đang trao cơ hội cho trẻ được rèn luyện, củng cố các vận động tinh phục vụ cho việc trẻ tự cầm thìa xúc cơm, cài quai dép, kéo khóa giày.... Về đồ dùng đồ chơi, ngoài những đồ dùng được cấp phát, tôi căn cứ vào mục tiêu của giáo dục trẻ nhà trẻ để làm những đồ dùng, đồ chơi phù hợp với trẻ, phù hợp với các chủ đề trong năm học, chúng tôi thường tranh thủ tự làm đồ dùng đồ chơi ngoài giờ để bổ sung cho các góc thêm phong phú, thu hút trẻ trải nghiệm, tập trung vào làm những đồ dùng kích thích phát triển vận động tinh của các ngón tay, bàn tay, cổ tay: luồn dây, cài cởi cúc, kéo khóa, bấm cúc, vặn nắp chai, cầm nắm....có màu sắc bắt mắt, an toàn cho trẻ khi chơi. Đồ chơi trong các góc luôn được thay đổi để phù hợp với chủ đề thực hiện và được sắp xếp gọn gàng, ngăn nắp, dễ sử dụng, vừa tầm với của trẻ, thuận lợi cho trẻ lấy và cất sau khi chơi. Ví dụ: Ở góc hoạt động với đồ vật, chúng tôi là 1 mảng thực hành kỹ năng, làm những đồ dùng gần gũi với với cá nhân trẻ như: quần có khóa để trẻ kéo lên, kéo xuống, đôi giày tập cho trẻ kỹ năng luồn dây giày, cài và cởi cúc, tháo lắp các loại khóa khác nhau như cài balo, cúc bấm, văn nắp chai...những đồ dùng đồ chơi này một phần tôi gắn lên tường, một phần xếp gọn lên tủ đồ chơi để trẻ dễ dàng lấy và cất sau khi chơi. Trẻ rất thích chơi ở góc này vì trẻ được trải nghiệm nhiều đồ chơi, đồ dùng với nhiều tác dụng khác nhau, khi chơi trẻ sẽ cảm nhận,
  16. khám phá ra cách sử dụng của những đồ vật gần gũi với đời sống thường ngày của trẻ. Chúng tôi đặc biệt chú đến góc phân vai, trò chơi bế em vì ở góc chơi này các kỹ năng tự phục vụ được thể hiện rõ nhất. Trẻ được bắt chước làm người lớn chăm sóc cho em bé búp bê như: cầm thìa bón cho em búp bê ăn, cầm cốc cho em búp bê uống nước, lau miệng cho búp bê, đi tất, giày dép cho búp bê trước khi cho em bé búp bê đi chơi đi học...Từ trò chơi này, từ những thao tác nhập vai chơi của trẻ sẽ dần hình thành và củng cố kỹ năng tự phục vụ cho trẻ như: cách cầm thìa xúc cơm, cách cầm cốc khi uống nước sữa, cách lau mặt...qua đó trẻ sẽ dần có ý thức tự giác trong giờ ăn tự cầm thìa xúc cơm ăn không cần cô giáo nhắc, trước khi đi ra ngoài thì biết đi giày dép, trước khi vào lớp biết tháo giày dép cho lên giá.... Hoặc trước khi cho em búp bê ngủ trẻ biết chuẩn bị chỗ ngủ: kê giường, xếp gối, lấy chăn đắp cho búp bê, dỗ búp bê ngủ... Đồ dùng đồ chơi sáng tạo, phong phú được đánh giá cao qua cuộc thi làm đồ chơi đẹp cấp trường và các chuyên đề của quận. Trẻ được thoải mái lựa chọn đồ chơi để trải nghiệm, tích cực khám phá ra cách sử dụng của những đồ vật gần gũi với đời sống thường ngày của trẻ. Môi trường trong và ngoài lớp được trang trí theo hướng lấy trẻ làm trung tâm, có nhiều góc mở, đặc biệt góc thực hành kỹ năng sống được bố trí cả trong và ngoài lớp học với nhiều hình ảnh phong phú kích thích trẻ khám phá, trải nghiệm. Giải pháp 4: Phối hợp với đồng nghiệp để rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ Năm học này chúng tôi được nhà trường phân công phụ trách 2 lớp Búp 1 và Búp 2 với sĩ số là 22 và 25 cháu/2 cô. Lứa tuổi này vừa phải dạy vừa phải dỗ nên để hoàn thành tốt được nhiệm vụ chăm sóc và giáo dục trẻ thì rất cần có sự phối hợp ăn ý của các cô trong lớp với nhau. Hiểu được điều này nên chúng tôi luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, chủ động phối hợp trong mọi việc khi ở lớp. Thậm chí để tránh tình trạng mỗi người hướng dẫn trẻ thực hiện kỹ năng tự phục vụ một kiểu thì chúng tôi bàn bạc với nhau, thống nhất trong từng lời nói, kĩ năng và hành vi để hướng dẫn trẻ. Ví dụ: Khi cho trẻ uống nước, sữa chúng tôi thống nhất hướng dẫn giống nhau khi hướng dẫn trẻ như sau: con cầm cốc bằng 2 tay, đứng tại chỗ để uống, uống xong úp cốc lên giá nhẹ nhàng. Mặt khác tôi và đồng nghiệp cũng tham gia đầy đủ các lớp tập huấn giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ 24-36 tháng do ban giám hiệu, tổ chuyên môn tổ chức. Tham khảo, nghiên cứu các tài liệu về kĩ năng tự phục vụ cho trẻ 24-36 tháng qua sách báo, các trang thông tin điện tử.
  17. Để góp phần đạt được mục tiêu giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ 2 tuổi trong các buổi sinh hoạt chuyên môn chúng tôi thường đưa ra các nội dung thảo luận về giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ. Hoặc thảo luận những giờ dạy mẫu về kỹ năng tự phục vụ từ đó chúng tôi được hỏi hỏi, rút kinh nghiệm lẫn nhau về các phương pháp, hình thức giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ. Giáo viên được cập nhật kiến thức thường xuyên, chuyên môn được trau dồi, được học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau. Đặc biệt là những giáo viên trẻ mới đi làm được học hỏi đồng nghiệp lâu năm không chỉ về chuyên môn mà còn về tác phong sư phạm khi lên lớp, cách truyền đạt kiến thức kỹ năng sao cho phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ 2 tuổi. Giải pháp 5: Tuyên truyền với phụ huynh duy trì luyện kỹ năng tự phục vụ cho trẻ hàng ngày khi ở nhà. Nếu bố mẹ và người thân là những người thầy đầu tiên của trẻ nhỏ thì gia đình là lớp học đầu tiên của trẻ. Trẻ được học, được bắt chước người lớn làm những việc đơn giản nhất để tự phục vụ mình. Trẻ thích được tự mình làm mọi thứ liên quan đến bản thân. Nhưng thay vì hướng dẫn trẻ để trẻ tự làm thì nhiều bố mẹ thường làm giúp con tất cả mọi việc. Vậy làm thế nào để trẻ không quên những kỹ năng tự phục vụ mà cô giáo đã dạy khi ở trên lớp thì cần có sự phối hợp của phụ huynh trong việc duy trì cho trẻ thực hiện hàng ngày khi trẻ ở nhà. Ngay từ những ngày đầu năm học tôi đã trao đổi với phụ huynh về những thói quen, sở thích của trẻ khi ở nhà hoặc tên gọi của trẻ khi ở nhà để gọi trẻ khi ở lớp, tạo sự gần gũi thân thiết giữa cô và trẻ. Từ đó hướng trẻ vào các hoạt động trong ngày để trẻ quen dần với nề nếp sinh hoạt khi ở lớp. Vào các giờ đón, trả trẻ tôi thường trao đổi với phụ huynh về tình hình của trẻ khi ở lớp như: trẻ đã quen với thức ăn ở lớp chưa, ăn ngon miệng, hết suất không, biết cầm thìa xúc cơm ăn hay chưa, khi xúc cơm có làm rơi vãi ra bàn không, trẻ biết đi vệ sinh đúng nơi quy định không....Và tích cực động viên phụ huynh khi ở nhà nên để trẻ tự làm những việc vừa sức, thường xuyên kể cho trẻ nghe những câu chuyện về kỹ năng tự phục vụ phù hợp với trẻ để trẻ bắt chước theo, khen ngợi trẻ khi trẻ chịu hợp tác và làm tốt. Ngoài ra tôi còn tuyên truyền đến phụ huynh qua các buổi họp phụ huynh đầu năm, giữa năm để thông báo cho phụ về những thay đổi, tiến bộ của trẻ khi ở lớp, cũng như những mặt hạn chế của trẻ để tìm hướng khắc phục và thống nhất các chăm sóc giáo dục trẻ tốt nhất. Trong năm học này tôi và giáo viên trong lớp cũng thường xuyên cập nhật các hoạt động hàng ngày của trẻ bằng những hình ảnh, video qua nhóm zalo của lớp và tạo mã QR các bài học giáo dục kĩ năng tự phục vụ (bài học do cô giáo tự thiết kế hoặc sưu tầm được) gửi tới phụ huynh để cha mẹ trẻ nắm bắt được khi ở
  18. lớp các con được chơi, được học gì, được ăn gì và cô giáo hướng dẫn các con làm thế nào, các con có tiếp thu được những kỹ năng, hoạt động mà cô hướng dẫn không từ đó rèn luyện thêm cho trẻ khi ở nhà. Không chỉ có vậy chúng tôi còn khuyến khích phụ huynh cho con thực hiện các kĩ năng tại nhà sau đó chụp ảnh gửi kết quả lại cho cô giáo qua trang zalo của lớp, tạo nên 1 làn sóng thi đua giữa các phụ huynh trong việc rèn cho trẻ kĩ năng tự phục vụ tại nhà. Sau khi áp dụng hình thức này, phụ huynh thường xuyên trao đổi với giáo viên về tình hình, thói quen của trẻ khi ở nhà với cô giáo giúp giáo viên nắm được đặc điểm của từng cá nhân trẻ để từ đó giáo viên lựa chọn hình thức giáo dục kỹ năng tự phục cho trẻ phù với trẻ. Bố mẹ thường xuyên đưa đón trẻ đến lớp, ít khi nhờ người khác đưa đón con mình. Phụ huynh tin tưởng, có ý thức và trách nhiệm cao khi phối hợp cùng cô để dạy những kỹ năng tự phục vụ phù hợp cho trẻ. 2. Tính mới, tính sáng tạo * Tính mới: - Các giải pháp trong Đề tài“Một số giải pháp giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho trẻ 24-36 tháng tuổi tại trường mầm non Hoàng Văn Thụ” chúngtôi đã nêu ở trên chưa có trong bất kì một tài liệu hay văn bản sách báo nào, không trùng với bất kì nội dung giải pháp nào đã đăng kí từ trước hay đã được áp dụng hoặc áp dụng thửhoặc đưa vào kế hoạch áp dụng, phổ biến hoặc chuẩn bị các điều kiện để áp dụng, phổ biến. - Chưa bị bộc lộ công khai trong các văn bản, sách báo, tài liệu kĩ thuật đến mức căn cứ vào đó có thể thực hiện ngay được. - Chưa được quy định thành tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm bắt buộc phải thực hiện. * Tính sáng tạo: - Đề tài“Một số giải pháp giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho trẻ 24-36 tháng tuổi tại trường mầm non Hoàng Văn Thụ”là một giải pháp sáng tạo của chúng tôi đã được áp dụng từ tháng 9/2022 và đã thu được hiệu quả nhất định. - Khi áp dụng đề tài này, chúng tôi xây dựng thêmmôi trường sáng tạo nhàm tạo ra được nhiều góc trải nghiệm, thực hành để trẻ được thoải mái lựa chọn đồ chơi, kích thích trẻ tích cực khám phá tạo cơ hội cho trẻ được rèn luyện, củng cố các vận động tinh để áp dụng vào các kĩ năng tự phục vụ. - Ngoài ra, chúng tôi tích hợp các bài thơ ngắn, hấp dẫn với trẻ nhằm kích thích sự thích thú và mong muốn được tự làm những công việc phù hợp đối với trẻ và làm một cách thuần thục.
  19. *Bảng so sánh đối chiếu kết quả trước và sau khi thực hiện các biện pháp: Trước khi Sau khi áp Các kỹ năng STT áp dụng Tỉ lệ dụng biện Tỉ lệ tự phục vụ biện pháp pháp 1 Xếp hàng rửa mặt, rửa tay 11/42 26% 34/42 80% 2 Tự cầm cốc uống nước, uống sữa 13/42 31% 38/42 90% 3 Tự cầm thìa xúc cơm ăn 11/42 26% 30/42 71% 4 Chuẩn bị chỗ ngủ 14/42 33% 38/42 90% Tự đi dép, tháo dép, cất dép đúng 5 14/42 33% 32/42 76% nơi quy định 6 Đi vệ sinh đúng nơi quy định 10/42 23% 30/42 71% Tập nói với cô giáo khi có nhu 7 12/42 28% 35/42 83% cầu: uống nước, đi vệ sinh... 3. Phạm vi ảnh hưởng, khả năng áp dụng của sáng kiến: Đề tài áp dụng trên mọi trẻ 24-36 tháng tuổi nói chung và trẻ 24- 36 tháng tuổi tại Trường Mầm non Hoàng Văn Thụ nói riêng. 4. Hiệu quả, lợi ích thu được từ sáng kiến: a/ Hiệu quả về mặt kinh tế: Trước khi áp dụng giải pháp này, thì cần đầu tư chi phí vào một số mục sau: STT Nội dung Giá tiền Giá tiền trong 1 ngày Giá tiền trong 1 tháng 1 Bỉm của trẻ 5.000/miếng 5.000 x 4 = 20.000 20.000 x 30 = 600.000 In ảnh các hoạt 2 động thông báo 8.000/tấm 8.000 x 15 = 120.000 cho phụ huynh Chi phí nước 3 rửa, giặt quần 13.500/ m3 13.500 x 4 = 54.000 54.000 x 30 = 405.000 áo cho trẻ. Tổng: 1.125.000/ trẻ/tháng Sau khi áp dụng các giải pháp của đề tài chúng tôi thấy không tốn kém chi phí, không mất nhiều tiền đầu tư bởi vì mọi hình ảnh các con hoạt động ở lớp được chụp lại bằng điện thoại và gửi online cho phụ huynh qua nhóm Zalo của lớp, không cần in ảnh ra từng tấm để cho phụ huynh xem tiết kiệm giấy mực, các bài giảng, trò chơi, bài thơ do cô giáo tự thiết kế hoặc tìm trên kho học liệu miễn phí của thành phố nên không mất tiền mua. Hầu hết đồ dùng đồ chơi của trẻ được tái chế lại từ các nguyên vật liệu đa dạng phong phú mà phụ huynh ủng
  20. hộ, không tốn kém chi phí. Tiết kiệm thời gian cho mọi gia đình vì trẻ có kĩ năng tự phục vụ cha mẹ mới yên tâm công tác và làm việc. b/ Hiệu quả về mặt xã hội: Sáng kiến giúp giáo viên lựa chọn đúng những kỹ năng tự phục vụ phù hợp với trẻ lớp mình để hướng dẫn trẻ. Hiểu được tâm sinh lý của từng trẻ, tạo mối quan hệ thân thiết gần gũi giữa cô và trẻ, tạo sự đoàn kết giữa các giáo viên trong lớp với nhau, nâng cao tinh thần hợp tác, phối hợp với nhau để hoàn thành tốt nhiệm vụ năm học được giao. Biết linh hoạt trong cách hướng dẫn trẻ thực hiện kỹ năng tự phục vụ, không gò bó, dập khuôn. Biết làm nhiều đồ chơi sáng tạo phục vụ cho việc rèn luyện sự khéo léo của bàn tay, ngón tay tạo thuận lợi cho những thao tác thực hiện kỹ năng tự phục vụ được nhanh nhẹn, chính xác. Được học hỏi lần nhau về kinh nghiệm chăm sóc, giáo dục trẻ. Trình độ chuyên môn của mỗi giáo viên được trau dồi, phát triển tích cực hơn. Quan trọng hơn cả là tạo được niềm tin đối với phụ huynh. Giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho trẻ góp phần giúp trẻ tự tin hơn, dễ hòa nhập hơn khi đến với môi trường mới. Trẻ được thỏa mãn nhu cầu tự lập, tự mình làm mọi thứ cho bản thân. Trẻ ý thức được những việc mình có thể tự làm: tự xúc cơm ăn, tự lau miệng sau khi ăn, tự cầm cốc không làm rơi, đỏ nước sữa, tự đi giày dép, tự cất đồ dùng cá nhân. Trẻ nhận biết được kí hiệu đồ dùng cá nhân của bản thân, không lấy nhầm của bạn. Biết phối hợp cùng cô để thực hiện kỹ năng, biết giúp đỡ những bạn chưa biết. Biết thể hiện nhu cầu của bản thân cho cô giáo hiểu qua cử chỉ, hành động, lời nói.Trẻ không còn khóc nhè khi đi học, thích đến lớp, yêu quý bạn và cô giáo. c/ Các giá trị làm lợi khác: Các kiến thức và thông tin về việc chăm sóc- giáo dục trẻ được phổ biến rộng rãi miễn phí, và có thể làm tài liệu tham khảo cho động nghiệp, làm nội dung tuyên truyền kiến thức chăm sóc giáo trẻ dành cho phụ huynh. CƠ QUAN ĐƠN VỊ TÁC GIẢ SÁNG KIẾN ÁP DỤNG SÁNG KIẾN (Ký tên) Trần Cẩm Nhung Mai Thị Yến