Giải pháp phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi thông qua hoạt động tạo hình

ppt 21 trang Liên Thủy 11/12/2025 1230
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giải pháp phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi thông qua hoạt động tạo hình", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pptgiai_phap_phat_trien_kha_nang_sang_tao_cho_tre_mau_giao_3_4.ppt

Nội dung tài liệu: Giải pháp phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi thông qua hoạt động tạo hình

  1. UBND QUẬN HỒNG BÀNG TRƯỜNG MẦM NON HÙNG VƯƠNG HỘI THI GIÁO VIÊN DẠY GIỎI CẤP TRƯỜNG NĂM HỌC 2023-2024 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG SÁNG TẠO CHO TRẺ MẪU GIÁO 3-4 TUỔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TẠO HÌNH Hồng Bàng, tháng 9 năm 2023
  2. I. Phần đặt vấn đề 1.Tính cấp thiết Chương trình giáo dục mầm non hiện nay ở hầu hết các tỉnh đã áp dụng chương trình đổi mới, nhưng hoạt động tạo hình trong đó có hoạt động xếp hình vẫn chưa thực sự quan tâm đúng mức, chưa theo hướng đổi mới. Trẻ vẫn hoạt động một cách thụ động .Các biện pháp phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ thông qua hoạt động xếp hình lâu nay đang được sử dụng còn mang tính áp đặt, dập khuôn theo mẫu sao chép chưa phát huy hết khả năng sáng tạo, nội dung lựa chọn hay chú trọng nhiều đến thể loại vẽ, tô, nặn, xé dán... mà ít quan tâm tâm đến nội dung “xếp hình”, giáo viên thường chú ý đến sản phẩm trẻ làm ra, ít chú ý đến kỹ năng tạo hình, quá trình làm ra sản phẩm, giáo viên thiếu sự linh hoạt, ko mạnh dạn nghiên cứu khai thác có hiệu quả đến hoạt động xếp hình (chuẩn bị đồ dùng, các nguyên vật liệu chưa phong phú, lựa chọn nội dung không mới lạ, không sáng tạo thu hút, hấp dẫn trẻ, ...)
  3. 2. Đối tượng nghiên cứu - Trẻ 3 - 4 tuổi lớp 3C1, trường Mầm non Hùng Vương. 3. Mục tiêu của biện pháp Giúp kích thích hứng thú, tăng cường sự tự tin, khả năng sáng tạo, ham học hỏi của trẻ. - Nghiên cứu các biện pháp tổ chức, phân tích, nhận xét thực trạng, đề xuất “Giải pháp phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi thông qua hoạt động tạo hình (xếp hình)” Tìm ra một số biện pháp và một số hoạt động để giúp trẻ rèn luyện khả năng sáng tạo ở trường mầm non.
  4. II. Nội dung 1.Thực trạng * Thuận lợi: Nhà trường: Đầu tư đủ cơ sở vật chất, trang thiết cho trẻ hoạt động. Giáo viên: Có trách nhiệm, ham học hỏi, nghiên cứu tìm các biện pháp giúp trẻ hình thành tính tự phục vụ. Phụ huynh: Nhiệt tình, quan tâm đến trẻ và các hoạt động của lớp. Học sinh: trẻ đã đi học nên có một số kỹ năng, nề nếp trong các hoạt động.
  5. * Khó khăn: Nhiều trẻ mới đi học nên kỹ năng tự phục còn vụ còn hạn chế. Một số phụ huynh chưa kết hợp với giáo viên rèn kỹ năng tự phục vụ cho con. - Các nguyên vật liệu chỉ dừng lại ở các nguyên vật liệu phế thải được dùng trong gia đình, chưa đa dạng, phong phú như cần sưu tầm thêm các nguyên vật liệu từ thiên nhiên như lá khô, rau củ quả, vải vụn và các nguyên vật liệu có sẵn như tranh ảnh, giấy nhăn...Đồ dùng, đồ chơi dân gian của các vùng miền chưa phong phú.
  6. Tổng số Kết quả khảo sát trên trẻ trẻ Tốt Khá TB Yếu Nội dung khảo sát khảo sát ST % ST % ST % ST % Trẻ hứng thú với trò chơi 30 7 21 12 50 5 21 4 8 Biết cách tạo ra sản phẩm 30 2 8 10 42 6 25 8 25 Biết tham gia chơi các trò 30 0 0 3 13 7 29 14 58 chơi dân gian với các bạn ở lớp
  7. 2. Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của biện pháp * Cơ sở lý luận: Một mặt do trẻ mới rời Vì vậy hoạt động tạo gia đình đến lớp với hình chính là một thứ Xuất phát từ đặc điểm cô với bạn, lúc này ngôn ngữ riêng để trẻ tâm sinh lý của trẻ ba môi trường sống sinh biểu lộ được nhận tình tuổi. Đây là giai đoạn hoạt của trẻ thay đổi cảm, tiếng nói của mình đầu tuổi mẫu giáo, vận nó rộng lớn hơn ở nhà với mọi người xung động của trẻ con ở mức mọi sự vật hiện tượng quanh. Để tạo ra một sản độ thấp (kỹ năng cầm xung quanh trẻ có rất phẩm đẹp trước hết trẻ bút, thao tác cắt, xé, dán mới lạ, trẻ chưa có phải hiểu về cái đó, có tình cảm với nó và có kỹ còn vụng về khái niệm về cái gì cụ thể. Mặt khác, vốn năng tạo ra nó, thì trẻ ngôn ngữ của trẻ còn mới hoàn thành sản quá ít trẻ chưa có chưa phẩm đó được. Chính từ thể diễn đạt nguyện các hoạt động đó sẽ là phát triển tình cảm thẩm vọng. mỹ của trẻ.
  8. * Cơ sở thực tiễn của biện pháp Khả năng sáng tạo của trẻ lớp mình còn ở mức thấp tham gia vào hoạt động. Trẻ còn nhút nhát, chưa tự tin tham gia vào hoạt động Nhiều giáo viên đã và đang thực hiện, song hiệu quả đạt được chưa cao vì cách tổ chức hoạt động giáo dục còn cứng nhắc, chưa kích thích được hứng thú, thi đua từ trẻ.
  9. 3. Áp dụng biện pháp Biện pháp 1: Xây dựng môi trường hoạt động thuận lợi để phát huy tính tích cực, khả năng sáng tạo của trẻ Để có thể tạo ra các sản phẩm tạo hình thông qua hoạt động xếp hình đẹp, có sự sáng tạo thì điều quan trọng người giáo viên phải tạo được hứng thú hoạt động xếp hình với trẻ. Một trong những cách tạo hứng thú đó là tạo ra không gian đẹp mang tính thẩm mỹ khích thích hoạt động của trẻ. Sắp xếp, trang trí lớp học đẹp, thoáng các góc (H1.1).
  10. H1.1 Hình ảnh trẻ đang hoạt động trong góc tạo hình Đặt và sắp xếp các vật liệu sao cho trẻ có thể thấy rõ và lấy được dễ dàng để thực hiện hoạt động tạo hình vào bất cứ lúc nào trẻ thích và có thể trưng bày các sản phẩm của mình. Tạo môi trường nghệ thuật xung quanh trẻ như: bầy đồ chơi đẹp, sắp xếp các nguyên vật liệu, đồ dùng một cách hợp lý đẹp mắt (H1.2) Từ đây tạo cho trẻ cảm giác thích thú và mong muốn được tái tạo.
  11. Biện pháp 2: Sử dụng đa dạng nguyên vật liệu cho trẻ xếp hình Gây hứng thú cho trẻ bằng hình thức khác tôi thấy trẻ đã thích thú tự mình thực hiện các kỹ năng. Khi thực hiện hoạt động xếp hình, nguyên vật liệu không thể thiếu được. Vậy để hoạt động xếp hình có hiệu quả, việc sử dụng nguyên vật liệu xếp hình là vô cùng quan trọng. Nguyên vật liệu là những loại đồ dùng, dụng cụ dễ kiếm. Giáo viên tận dụng các vật liệu chất liệu có sẵn trong tự nhiên để hướng dẫn trẻ hoạt động xếp hình. Có thể trẻ tự kiếm như lá cây, phế liệu hư, vỏ hộp, thùng catong, quần áo cũ, bông, vải vụn, các loại hột hạt, hình xếp, khối gỗ Chúng có thể được sản xuất như: giấy, hồ dán, kéo, Sự đa dạng của nguyên vật liệu tạo hình để lựa chọn để khuyến khích khả năng sáng tạo của trẻ. Để đảm bảo khi sử dụng nguyên vật liệu tạo hình tôi cần cân nhắc những điểm sau: + An toàn (không nhọn, không có cạnh sắc, không độc hại, ) + Rẻ tiền (những nguyên vật liệu mua ở địa phương) + Dễ kiếm: Ví dụ: vỏ ốc, hến, hạt na, bưởi, len, )
  12. + Dễ bảo quản hay cất giữ + Dễ cầm: (phù hợp với tầm tay của trẻ) + Dễ cung cấp kinh nghiệm bao gồm cả giác quan. + Tạo cơ hội để lựa chọn và sắp xếp nguyên vật liệu + Luôn quan sát sự tưởng tượng và sử dụng trí nhớ linh hoạt vì từng đồ dùng, đồ chơi còn nhiều hạn chế tôi luôn huy động trẻ tìm kiếm nguyên vật liệu, phế thải có sẵn ở địa phương. Ví dụ: Bằng những hạt gạo, hạt đỗ, rơm, rạ, lá cây, vỏ hến, tôi có thể tạo ra nhiều con vật nghộ nghĩnh, sinh động, bông hoa, ông mặt trời những bức xếp hình, các đề tài khác nhau. (H1.4) H1.4 Hình ảnh tranh cây xếp hình từ vỏ hạt cười
  13. Biện pháp 3: Nội dung xếp hình được tích hợp trong các hoạt động ở mọi lúc, mọi nơi H1.3 Hình ảnh trẻ chơi xếp hình bằng hạt gấc, vỏ sò - Hoạt động tạo hình ở các góc: Cho trẻ xem tranh hoặc trẻ được tự do thể hiện việc xếp hình qua các kỹ năng biết xếp kề, xếp cạnh, xếp cách, xếp chồng bằng các nguyên vật liệu khác nhau, biết lựa chọn màu sắc phù hợp và phân biệt kích thước của nguyên vật liệu (H1.4)
  14. Biện pháp 4: Ứng dụng công nghệ thông tin Việc ứng dụng công nghệ thông tin có vai trò rất quan trọng là một đòi hỏi tất yếu trong quá trình dạy học. Việc sử dụng các phần mền dạy học như violet, flash, Canva với các hình ảnh ngộngĩnh sẽ tạo cho trẻ sự thích thú, dễ hiểu, không bị nhàm chán. Đôi khi cô hướng dẫn trẻ cách xếp hình trẻ không chú ý, nhưng khi sử dụng các chuyển động, hình động đáng yêu hướng dẫn xếp hình trẻ sẽ chú ý hơn, mong muốn tạo ra sản phẩm, kích thích sự sáng tạo của trẻ. Công nghệ thông tin giúp giáo viên thiết kế ra những bài giảng trực quan, sinh động, tạo nên môi trường học tập thân thiện, học sinh tích cực. Mỗi buổi học sẽ là những giờ phút khám phá đầy thú vị của cả cô và trò, giúp trẻ càng thêm yêu mến giáo viên, bạn bè và thích thú mỗi khi đến trường mà không cần phải bó buộc theo khuôn khổ cứng nhắc như trước đây. Ví dụ: Khi thực hiện nội dung xếp hình ngôi nhà bằng các hình, giáo viên chỉ cần thiết kế các slide chuyển động các hình với màu sắc tương ứng, trẻ sẽ rất hứng thú khi được quan sát, kích thích trí tượng, sáng tạo ở trẻ(H1.6)
  15. Kết hợp với nhà trường tôi liên hệ và tổ chức các buổi giao lưu với các trung tâm dạy kỹ năng sống như : Vietskill, Tâm Việt Đối với những trẻ có kỹ năng tự phục vụ chưa tốt, trẻ cần được hỗ trợ, tôi trao đổi trực tiếp với phụ huynh để cùng nắm bắt về khả năng của trẻ tìm ra các biện pháp dạy trẻ phù hợp
  16. * Ưu điểm của giải pháp: - Sau khi sưu tầm, lựa chọn, chuẩn bị các điều kiện và tổ chức các trò chơi dân gian cho trẻ vào các thời điểm trong ngày, bản thân tôi nhận thấy trẻ chơi rất hứng thú và học rất say mê. Khi đọc và diễn tả các bài đồng dao trẻ rất chú ý và học rất nhanh, hầu như trẻ có thể chơi trò chơi dân gian ở mọi lúc mọi nơi. Trong quá trình chơi trẻ rất thoải mái, tự tin do trò chơi không đòi hỏi những kỹ năng phức tạp nên các bạn nhút nhát hòa đồng hơn với các bạn trong lớp. Trò chơi thu hút số lượng trẻ tham gia nhiều hơn nên trẻ có tính tập thể cao trong các hoạt động. - Phụ huynh cảm thấy hào hứng khi con tự tin, mạnh dạn - Giáo viên được tăng thêm kỹ năng sư phạm, có kiến thức sâu rộng hơn về nền văn hóa dân tộc, tạo được niềm tin từ phía phụ huynh và nhà trường. Nhà trường tạo ra nhiều sân chơi thu hút được sự tham gia của phụ huynh và học sinh giúp gắn kết giữa nhà trường và gia đình.
  17. * Hạn chế của giải pháp -Đa số trò chơi dân gian được lồng ghép với các hoạt động khác, ít khi được tổ chức riêng theo 1 chương trình. * Biện pháp khắc phục hạn chế - Tiếp tục nghiên cứu, học tập xây dựng kế hoạch phù hợp chi tiết cho những trẻ cần quan tâm.
  18. * Đánh giá kết quả đạt được sau khi áp dụng biện pháp Đối với trẻ: Bước đầu hình thành thói quen tự phục trẻ biết tự rửa tay, lau mặt, tự đi vệ sinh, giúp cô cất dọn đồ chơi sau khi chơi, cất gối, chiếu sau khi ngủ dậy. Giáo viên: Nắm vững được phương pháp giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ, lồng ghép một cách sáng tạo nhằm rèn kỹ năng cho trẻ. Phụ huynh: các bậc phụ huynh tăng cường tương tác, phối hợp với cô giáo nhiều hơn, yên tâm khi gửi con tại trường.
  19. III. Kết luận và khuyến nghị *Đánh giá khả năng triển khai rộng rãi của biện pháp và hướng phát triển tiếp theo Giải pháp đã được nhân rộng tại các lớp 3 tuổi của nhà trường và có khả năng nhân rộng các lớp 3-4 tuổi trong quận, thành phố . * Bài học kinh nghiệm Thường xuyên trau Dành thời gian, Công tác truyền dồi kiến thức về kỹ quan tâm nhiều thông, phối hợp năng tự phục vụ hơn đến những với phụ huynh, của trẻ 3-4 tuổi, để trẻ cần được hỗ các bộ phận trong xây dựng được trợ từ đó có biện trường trong việc hoạt động phù hợp pháp giáo dục hình thành thói với cá nhân trẻ. phù hợp quen tự phục vụ