Biện pháp phát huy tính tích cực và hứng thú cho trẻ 5-6 tuổi khám phá khoa học
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Biện pháp phát huy tính tích cực và hứng thú cho trẻ 5-6 tuổi khám phá khoa học", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
bien_phap_phat_huy_tinh_tich_cuc_va_hung_thu_cho_tre_5_6_tuo.doc
Nội dung tài liệu: Biện pháp phát huy tính tích cực và hứng thú cho trẻ 5-6 tuổi khám phá khoa học
- UBND QUẬN HỒNG BÀNG TRƯỜNG MẦM NON SỞ DẦU PHỤ LỤC Biện pháp phát huy tính tích cực và hứng thú cho trẻ 5-6 tuổi khám phá khoa học Tác giả: Nguyễn Thị Thuý Hằng – Đào Thị Thanh Huệ Trình độ chuyên môn: Đại học mầm non Chức vụ: Giáo viên Nơi công tác: Trường Mầm non Sở Dầu Hồng Bàng, ngày 05 tháng 1 năm 2025 1
- CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ĐƠN ĐỀ NGHỊ XÉT, CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN Năm: 2024 Kính gửi: Hội đồng thẩm định sáng kiến quận Hồng Bàng Họ và tên: Nguyễn Thị Thúy Hằng – Đào Thị Thanh Huệ. Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên- Trường Mầm non Sở Dầu Tên sáng kiến: Biện pháp phát huy tính tích cực và hứng thú cho trẻ 5-6 tuổi khám phá khoa học. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Phát triển nhận thức 1. Đơn vị áp dụng sáng kiến Tên đơn vị: Trường mầm non Sở Dầu Địa chỉ: Khu An Chân Quận Hồng Bàng Hải Phòng Điện thoại:0768328286 I. Mô tả giải pháp đã biết Trẻ em ngày nay được sinh ra trong thời đại khoa học kĩ thuật vì vậy muốn trẻ có những chí hướng lớn, chúng ta không thể coi nhẹ việc giáo dục khoa học, chính sự đam mê tìm hiểu đó được nảy mầm từ khoa học. Thông qua các hoạt động khoa học trẻ có thể giải quyết các vấn đề, các hiện tượng thường xuất hiện trong cuộc sống hàng ngày một cách sáng tạo. Khi đó khám phá khoa học vừa mang lại niềm vui và sự quan tâm về khoa học một cách tự nhiên, vừa chuẩn bị một nền tảng suy nghĩ khoa học đang trở thành một mục tiêu lớn trong ngành giáo dục mầm non. Thực tế đã có nhiều giải pháp của các đồng nghiệp thực hiện tuy nhiên qua nghiên cứu nhận thấy có một số ưu điểm và hạn chế sau: * Ưu điểm: Các giải pháp đã được thực hiện góp phần phát huy nội lực, tính tích cực độc lập của trẻ, kích thích sự tò mò ham học hỏi và trao đổi của trẻ Tạo không khí vui tươi, sôi nổi của trẻ và trẻ, cô giáo và trẻ trong các hoạt động khám phá khoa học Các giải pháp đã bước đầu sử dụng có hiệu quả đồ dùng, nguyên học liệu sáng tạo, tạo môi trường cho trẻ thực hiện các hoạt động khám phá Tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ phát huy tính tích cực trong các hoạt động khám phá và giúp giáo viên hoàn thành mục tiêu theo nội dung chương trình 2
- Giáo viên đã có kế hoạch thực hiện các hoạt động khám phá theo các chủ đề, có hệ thống câu hỏi giúp phát huy tư duy so sánh, quan sát của trẻ và đã dành thời gian cho trẻ thực hành khám phá trải nghiệm. * Hạn chế: Trong thực tế việc tổ chức thực hiện các hoạt động khám phá khoa học cho trẻ tại các trường mầm non chưa thật sự được chú trọng, chưa phát huy tối đa hiệu quả, do một số giáo viên chưa hiểu sâu sắc ý nghĩa to lớn của việc cho trẻ khám phá khoa học nên khi vận dụng các nội dung giáo dục trong tổ chức các hoạt động còn mang tính hình thức, gò bó,... Đa số giáo viên có tâm lí e ngại khi xây dựng và tổ chức các hoạt động khám phá khoa học vì họ nghĩ hoạt động khám phá khoa học cần phải có đủ đồ dùng, trang thiết bị hiện đại hỗ trợ, nghe đến từ “khoa học” thường có cảm giác xa vời khi trẻ chỉ ở độ tuổi mầm non. Môi trường khám phá chưa phong phú. Giáo viên còn lúng túng trong thực hiện nội dung cho trẻ khám phá khoa học, các kế hoạch hoạt động và hình thức tổ chức chưa phong phú, đa dạng và chưa thực sự phù hợp với nhu cầu, khả năng của trẻ. Trong các hoạt động khám phá khoa học, giáo viên chưa quan tâm nhiều đến việc dạy cho trẻ các kĩ năng thực hành và kĩ năng tự giải quyết các vấn đề phát sinh trong khi thực hiện các hoạt động, chưa tạo nhiều cơ hội để trẻ thể hiện kĩ năng hợp tác chia sẻ mà thường dành nhiều thời gian hình thành cho trẻ những kĩ năng: chú ý lắng nghe và quan sát cô thực hiện. Một phần không nhỏ các bậc phụ huynh chưa chú trọng đến việc tạo cơ hội cho trẻ học hỏi, quan sát, suy luận các hiện tượng quen thuộc gần gũi diễn ra xung quanh, chưa chú ý đến phát triển các kĩ năng cho trẻ, do đó vốn kiến thức và các kĩ năng khi khám phá khoa học của trẻ còn hạn chế đặc biệt là với trẻ 5- 6 tuổi khi mà nhu cầu nhận thức và phản ánh thế giới xung quanh lại rất lớn. II. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận sáng kiến II.1. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận sáng kiến Để giúp trẻ hứng thú tích cực tham gia vào các hoạt động khám phá khoa học tôi đã nghiên cứu và thực hiện thành công 5 giải pháp sau: a/ Biện pháp 1: Xác định mục tiêu và xây dựng kế hoạch nội dung các hoạt động khám phá khoa học cho trẻ phù hợp với độ tuổi. b/ Biện pháp 2: Tạo môi trường phong phú, hấp dẫn với các đồ dùng, đồ chơi, nguyên vật liệu cho trẻ hoạt động c/Biện pháp 3: Cho trẻ khám phá các sự vật hiện tượng bằng các giác quan và qua các hoạt động d/Biện pháp 4: Dành thời gian cho trẻ tự khám phá, trải nghiệm và chia sẻ, bày tỏ ý kiến của mình. 3
- e/ Biện pháp 5: Sử dụng hệ thống câu hỏi phù hợp giúp trẻ phát triển tư duy và khích lệ trẻ suy nghĩ về những gì trẻ nhìn thấy. II. 2 Tính mới, tính sáng tạo: Trẻ ở lứa tuổi mầm non trí não đang trong giai đoạn phát triển hoàn thiện nên rất cần có phương pháp giáo dục khoa học. Với trẻ khoa học luôn là một hành trình khám phá hấp dẫn và thú vị qua những câu hỏi ngô nghê hết sức đáng yêu về thế giới xung quanh đầy bí ẩn, trẻ muốn hiểu, muốn biết những điều mới lạ nên đây là “giai đoạn vàng” để khai mở tiềm năng, phát triển trí tuệ và sáng tạo cho trẻ. Điều quan trọng là mỗi người giáo viên cần nhận thức đúng tầm quan trọng của vấn đề, nhanh nhạy vận dụng các tình huống khoa học để kết hợp dạy cho trẻ khám phá khoa học thành công. Các hoạt động thực nghiệm, trực quan - sinh động đầy hứng thú, từ đó sẽ giúp trẻ khơi mở tính tò mò vốn có, phát huy hết tiềm năng thế mạnh cùng với những đam mê sáng tạo, thích khám phá hứng khởi học tập mở rộng kiến thức các hoạt động nói chung và họat động khám phá khoa học nói riêng. Qua các nội dung biện pháp đã, đang thực hiện trong sáng kiến giúp nâng cao kiến thức, kĩ năng chuyên môn nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên, giúp giáo viên thiết kế các nội dung khám phá khoa học cho trẻ đa dạng, phong phú, sáng tạo hơn nhằm thực hiện tốt các hoạt động giáo dục, góp phần giúp trẻ phát triển toàn diện nhân cách một cách tốt nhất trong thời đại mới. Đồng thời thực hiện tốt yêu cầu nhiệm vụ năm học. II.3. Hiệu quả, lợi ích thu được do áp dụng giải pháp Sau khi thực hiện nghiêm túc và đồng bộ các biện pháp nêu trên tôi nhận thấy trẻ có nhiều tiến bộ rõ rệt, trẻ đã biết tự chủ trong các hoạt động khám phá, có nhiều tìm tòi, sáng tạo hơn: + 98% trẻ có khả năng chủ động khám phá, hứng thú tích cực tham gia các hoạt động + 99 % trẻ có kỹ năng thực hiện các hoạt động khám phá, thực hành sử dụng các dụng cụ khám phá . + 100% phụ huynh quan tâm chủ động phối hợp với giáo viên trong các hoạt động khám phá khoa học cho trẻ. - Hiệu quả kinh tế Trẻ hứng thú, tích cực, thích đi học, có tâm thế vui vẻ phấn khởi đến lớp tạo sự yên tâm, tin tưởng của phụ huynh đối với giáo viên và nhà trường từ đó yên tâm lao động sản xuất Các biện pháp đơn giản, thực tế và gần gũi không tốn kém kinh phí giáo viên nào cũng có thể thực hiện được. - Hiệu quả xã hội 4
- Trẻ có vốn kiến thức kỹ năng khám phá khoa học trong mọi hoạt động khi ở lớp và ở nhà tạo niềm tin của nhân dân, phụ huynh khi đưa trẻ đến trường. Giúp cô có nhiều kinh nghiệm hơn trong việc thực hiện các hoạt động khám phá khoa học trong các hoạt động. Trẻ hứng thú tham gia các hoạt động của lớp và ngày càng hứng thú, ham thích đến lớp. - Giá trị làm lợi khác: Trong quá trình nghiên cứu, áp dụng vào thực thế các biện pháp đã nêu, trẻ lớp tôi có kiến thức, kỹ năng khám phá khoa học trong các hoạt động. Phụ huynh quan tâm hơn và thường xuyên trao đổi với giáo viên, hỗ trợ giáo viên giáo dục, rèn luyện trẻ trong các hoạt động khi ở nhà. II.4 Khả năng nhân rộng: Sáng kiến áp dụng trong toàn ngành giáo dục nói chung, các trường lớp trong độ tuổi mầm non nói riêng. Áp dụng có hiệu quả cao với nội dung dạy trẻ khám phá khoa học cho trẻ các độ tuổi. II. 5. Phạm vi ảnh hưởng: Sáng kiến “Biện pháp phát huy tính tích cực và hứng thú cho trẻ 5- 6 tuổi khám phá khoa học” là một sáng kiến có ý nghĩa lớn với giáo viên mầm non trong tổ chức thực hiện các hoạt động khám phá khoa học. Các biện pháp trong sáng kiến giúp giáo viên tự tin hơn trong lựa chọn và thực hiện các đề tài khám phá, tạo cơ hội cho trẻ phát huy khả năng tìm tòi, học hỏi trải nghiệm. Các giải pháp đưa ra hoàn toàn phù hợp với tình hình thực tế tại các trường trong toàn quận và các quận khác. Có thể phát triển nhân rộng với các lĩnh vực khác. Hải Phòng, ngày 20 tháng 12 năm 2024 Người viết đơn Nguyễn Thị Thúy Hằng – Đào Thị Thanh Huệ 5
- BẢN MÔ TẢ VỀ SÁNG KIẾN I. Thông tin chung về sáng kiến 1. Tên sáng kiến: “Biện pháp phát huy tính tích cực và hứng thú cho trẻ 5- 6 tuổi khám phá khoa học” 2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Phát triển nhận thức 3.Tác giả: Họ và tên: Nguyễn Thị Thúy Hằng Ngày/ tháng/ năm sinh: 4/10/1980 Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên - Trường Mầm non Sở Dầu Điện thoại: 0919460698 Họ Và tên: Đào Thị Thanh Huệ Ngày/ tháng/ năm sinh: 4/10/1980 Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên - Trường Mầm non Sở Dầu Điện thoại: 0787246810 4. Đơn vị áp dụng sáng kiến: Tên đơn vị: Trường mầm non Sở Dầu. Địa chỉ: Khu An Chân Quận Hồng Bàng- thành phố Hải Phòng II. Mô tả giải pháp đã biết: * Ưu điểm: Các giải pháp đã được thực hiện góp phần phát huy tính tự lập cho trẻ trong các hoạt động hàng ngày Tạo không khí vui tươi, sôi nổi của trẻ và trẻ, cô giáo và trẻ trong các hoạt động khám phá khoa học Các giải pháp đã bước đầu sử dụng có hiệu quả đồ dùng, nguyên học liệu sáng tạo, tạo môi trường cho trẻ thực hiện các hoạt động khám phá Tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ phát huy tính tích cực trong các hoạt động khám phá và giúp giáo viên hoàn thành mục tiêu theo nội dung chương trình Giáo viên đã có kế hoạch thực hiện các hoạt động giúp trẻ phát huy tính tự giác theo các chủ đề, có tình huống trẻ cần phải tự hoàn thành phàn việc của mình * Hạn chế: Việc tổ chức thực hiện các hoạt động khám phá khoa học cho trẻ tại các trường mầm non chưa thật sự được chú trọng, chưa phát huy tối đa hiệu quả, do một số giáo viên chưa hiểu sâu sắc ý nghĩa to lớn của việc cho trẻ khám phá khoa học nên khi vận dụng các nội dung giáo dục trong tổ chức các hoạt động còn mang tính hình thức, gò bó,... 6
- Đa số giáo viên có tâm lí e ngại khi xây dựng và tổ chức các hoạt động khám phá khoa học vì họ nghĩ hoạt động khám phá khoa học cần phải có đủ đồ dùng, trang thiết bị hiện đại hỗ trợ, nghe đến từ “khoa học” thường có cảm giác xa vời khi trẻ chỉ ở độ tuổi mầm non. Giáo viên còn lúng túng trong thực hiện nội dung cho trẻ khám phá khoa học, các kế hoạch hoạt động và hình thức tổ chức chưa phong phú, đa dạng và chưa thực sự phù hợp với nhu cầu, khả năng của trẻ. Trong các hoạt động khám phá khoa học, giáo viên chưa quan tâm nhiều đến việc dạy cho trẻ các kĩ năng thực hành và kĩ năng tự giải quyết các vấn đề phát sinh trong khi thực hiện các hoạt động, chưa tạo nhiều cơ hội để trẻ thể hiện kĩ năng hợp tác chia sẻ mà thường dành nhiều thời gian hình thành cho trẻ những kĩ năng: chú ý lắng nghe và quan sát cô thực hiện. Qua thực tế khi tổ chức các hoạt động khám phá khoa học, giáo viên còn can thiệp sâu vào trong quá trình khám phá của trẻ mà chưa chú ý đến việc rèn luyện các kĩ năng để phát huy tính sáng tạo của trẻ. Một phần không nhỏ các bậc phụ huynh chưa chú trọng đến việc tạo cơ hội cho trẻ học hỏi, quan sát, suy luận các hiện tượng quen thuộc gần gũi diễn ra xung quanh, chưa chú ý đến phát triển các kĩ năng cho trẻ, do đó vốn kiến thức và các kĩ năng khi khám phá khoa học của trẻ còn hạn chế đặc biệt là với trẻ 5- 6 tuổi khi mà nhu cầu nhận thức và phản ánh thế giới xung quanh lại rất lớn. III. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận sáng kiến 1 Nội dung giải pháp đề nghị công nhận sáng kiến Để giúp trẻ hứng thú tích cực tham gia vào các hoạt động khám phá khoa học tôi đã nghiên cứu và thực hiện thành công 4 giải pháp sau: a: Biện pháp 1: Xác định mục tiêu và xây dựng kế hoạch nội dung các hoạt động khám phá khoa học cho trẻ phù hợp với độ tuổi. Khoa học không chỉ là kiến thức mà còn là quá trình hay con đuờng tìm hiểu, khám phá thế giới vật chất. Đối với trẻ lứa tuổi mầm non, học khoa học là chủ yếu học cách suy nghĩ chữ chưa phải học những quy luật của khoa học. Ở giai đoạn này, giáo viên không nhất thiết phải dạy hoặc giải thích những kiến thức khoa học cho trẻ mà quan trọng hơn là giúp trẻ suy nghĩ nhiều hơn về những gì chúng nhìn thấy và đang làm, kích thích trẻ quan sát, xem xét, suy luận, phỏng đoán về các sự vật hiện tượng xung quanh. Việc dạy khoa học cho trẻ nên chú trọng vào quá trình học như thế nào hơn là vào kết quả học được gì. Điều đó cũng có nghĩa là trẻ cần được lôi cuốn vào các quá trình khám phá sao cho phù hợp với khả năng nhận thức và điều kiện thực tế của trường lớp mà vẫn đảm bảo các mục đích yêu cầu các hoạt động khám phá. 7
- Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề nên trước khi thực hiện các hoạt động khám phá khoa học tôi phải xác định mục tiêu và xây dựng kế hoạch nội dung các hoạt động đảm bảo các yêu cầu như: Xây dựng kế hoạch bám sát vào kế hoạch chung của nhà trường sau đó xây dựng kế hoạch cho từng tuần, từng tháng. Trước khi tổ chức các hoạt động khám phá tôi giao nhiệm vụ cho trẻ tự định hình và tìm ra các việc làm để đạt được mục đích của các kế hoạch đó. VD: Ngay từ đầu năm học tôi đã quan sát, gần gũi với trẻ nắm bắt được tâm lí của từng trẻ và xây dựng kế hoạch nội dung khám phá cho từng hoạt động với từng khoảng thời gian hợp lí, theo trình tự khoa học: hoạt động chủ đích- hoạt động ngoài trời, dạo chơi thăm quan... Việc xác định mục đích cho từng hoạt động tạo cho cô giáo có kỹ năng thực hiện các hoạt động một cách khoa học, logic, kích thích trẻ hứng thú tích cực trong hoạt động khám phá. Bên cạnh đó khi tổ chức hoạt động khám phá khoa học cho trẻ tôi luôn kết hợp đặt ra mục đích giáo dục trẻ biết tự nói ra ý tưởng của mình và cùng cô chuẩn bị đồ dùng, dụng cụ khám phá. Vì vậy khi tổ chức các hoạt động khám phá khoa học cho trẻ đòi hỏi cô giáo phải nắm vững các nguyên tắc, lựa chọn các nội dung để xác định hình thức tổ chức cho phù hợp: Lựa chọn các nội dung hoạt động khám phá khoa học cần cụ thể, gần gũi với cuộc sống thực mà trẻ trải nghiệm hàng ngày. Các nội dung khám phá đó đảm bảo nguyên tắc phù hợp với hứng thú, kinh nghiệm và hiểu biết của trẻ, phù hợp với nguồn nguyên vật liệu và điều kiện thực tế cho trẻ trải nghiệm. Hoạt động khám phá khoa học có thể được tổ chức thực hiện ở trong nhà, ngoài hiên, ngoài sân, có không gian rộng cho tất cả trẻ đều được quan sát và thực hành trải nghiệm. Có thể sử dụng các nguyên vật liệu, đồ dùng đồ chơi có sẵn để khám phá. Xác định mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ của trẻ sau hoạt động khám phá bám sát vào mục tiêu độ tuổi, gắn với kết quả mong đợi của các lĩnh vực khác. Khi xác định được nội dung và mục đích các hoạt động khám phá khoa học tôi xây dựng kế hoạch tổ chức các hoạt động phù hợp với độ tuổi lớp mình mà vẫn đảm bảo yêu cầu khả năng của trẻ, giúp trẻ hứng thú tích cực hoạt động. b: Biện pháp 2: Tạo môi trường phong phú, hấp dẫn với các đồ dùng, đồ chơi, nguyên vật liệu cho trẻ hoạt động Khi nói đến trẻ mầm non không ai không biết trẻ ở lứa tuổi này rất thích tìm hiểu, khám phá môi trường xung quanh. Các hoạt động và các sự kiện xảy ra dù rất bình thường với người lớn chúng ta nhưng lại có sức hấp dẫn đối với trẻ. 8
- Trẻ rất vui sướng khi tự tay gấp và thả những chiếc thuyền giấy xuống chậu nước “Thả thuyền” nhìn chiếc thuyền bơi trong nước; hay nhìn thấy nước chảy từ trên cao xuống thấp “thác nước”; nhìn những chiếc bong bóng xà phòng bay lơ lửng trên không và vỡ tan “bong bóng xà phòng” Vì thế có rất nhiều cơ hội để đưa khoa học vào cuộc sống hàng ngày cho trẻ khám phá. Hình ảnh 1: Trẻ chơi với cát nước Trẻ dựa vào người lớn để quan tâm đến môi trường xung quanh một cách tích cực. Trẻ có vai trò chủ đạo trong sự phát triển nhận thức của chính mình thông qua tương tác qua lại tích cực giữa trẻ với môi trường vật chất và môi trường xã hội xung quanh. Chất lượng của hoạt động nhận thức liên quan đến các thái độ nhận thức và các kĩ năng nhận thức của trẻ. Sự phát triển của quá trình nhận thức phụ thuộc vào sự trưởng thành của trẻ, vào các kích thích và các trải nghiệm có trong môi trường, vào các vấn đề mà trẻ tiếp xúc trực tiếp trong môi trường và các vấn đề do người lớn tổ chức hướng dẫn. Trẻ 5- 6 tuổi cần có nhiều cơ hội để khám phá, nên giáo viên cần tạo cơ hội cho trẻ có những trải nghiệm để trẻ phát triển nhận thức qua việc tiếp xúc với môi trường gần gũi xung quanh như lớp học với các góc chơi, các khu vực trong sân trường. Vì vậy, để cung cấp những cơ hội khám phá khoa học cho trẻ, giáo viên cần tạo môi trường hoạt động khoa học phong phú, hấp dẫn với các đồ dùng, đồ chơi, các nguyên vật liệu khác nhau vì trẻ mầm non học chủ yếu qua chơi, qua tự thăm dò, khám phá. Giáo viên nên bố trí, bày biện phòng nhóm sao cho kích thích trẻ hoạt động tốt nhất: Các góc chơi có sự phân biệt động - tĩnh và có diện tích phù hợp, có khoảng cách ranh giới giữa các góc chơi để tạo không gian cho trẻ thỏa sức khám phá mà cô giáo vẫn quan sát được trẻ chơi; đồ dùng đồ chơi xếp gọn gàng phù hợp với từng chủ đề, tránh để quá nhiều trên giá gây phân tán sự chú ý của trẻ; dưới mỗi trò chơi là các đồ dùng, dụng cụ phục vụ các trò chơi đó, có bảng hướng dẫn và bảng ghi lại kết quả chơi, Đồ dùng đồ chơi để giúp trẻ khám phá như kính lúp, nam châm, cân, gương, chai lọ, các vật chìm vật nổi, ; các con vật nuôi như gà, vịt, thỏ, cá, chim, ngoài ra còn tùy theo chủ đề có thể sử dụng các đồ dùng đồ chơi sưu tầm. VD: Chủ đề “Nước”: Tôi cùng trẻ chuẩn bị đồ dùng đồ chơi như các loại chai lọ, màu nước, lá cây cho trẻ chơi khám phá về nước trong các góc nghệ thuật, góc thiên nhiên, góc gia đình qua các trò chơi “nước bốc hơi như thế nào?” cho trẻ quan sát sự bốc hơi của nước khi đun nóng, quan sát cốc nước nóng, làm thí nghiệm “sự tan của đá”, pha nước cam, nước chanh, pha sữa để trẻ nắm bắt được các dạng tồn tại của nước trong tự nhiên. Hay chơi pha màu nước, trẻ sẽ hiểu được sự kỳ diệu của các màu nước khi pha với nhau cho ra 9
- những màu khác, từ những màu sắc này có thể nhuộm màu cho những bông hoa, những mảnh vải để tạo ra những chiếc váy áo đẹp. Chủ đề “Đồ dùng quanh bé”, tôi cho trẻ phát hiện và làm thí nghiệm để phân biệt chất liệu của một số loại đồ dùng bằng nam châm, trẻ sẽ chuẩn bị các đồ dùng trẻ biết sau đó dùng nam châm hút các đồ dùng đó để phân biệt đồ dùng bằng nhôm, sắt hay bằng nhựa. Hay chơi với chiếc gương, khám phá sự phản chiếu ánh sáng từ chiếc gương “bắt bóng” Chủ đề “Gió với đời sống”: Tôi và trẻ chuẩn bị các loại quạt bằng giấy, mo cau, bìa cứng, quạt bàn, quạt nan cho trẻ chơi “tạo gió” bằng cách thổi chong chóng quay, thổi nơ bay; làm những cơn gió bằng những chiếc quạt và cảm nhận tầm quan trọng của gió. Cho trẻ phân biệt gió nhân tạo và gió tự nhiên Chủ đề “Sự nảy mầm của hạt”, tôi cho trẻ chuẩn bị các loại cốc, chậu nhựa và hạt giống, cùng trẻ ngâm hạt, xới đất và gieo hạt, phân công nhóm trẻ chăm sóc tưới hàng ngày và theo dõi sự nảy mầm của hạt, ngòai ra để trẻ thêm hứng thú tôi cho trẻ cùng làm thí nghiệm về sự mọc rễ của cây vạn niên thanh, quan sát củ cà rốt mọc rễ trong cốc nước, sự nảy nhánh của củ hành Từ đó trẻ sẽ hiểu được quá trình nảy mầm của hạt để mọc thành cây mà trẻ biết. Hình ảnh 2 + 3: Trẻ cùng làm thí nghiệm về sự mọc rễ của cây và quan sát mọc rễ trong cốc nước, sự nảy nhánh của củ hành Trong khi thử nghiệm trẻ sẽ tìm thấy những kết luận qua sự giải thích của cô, hay chính trẻ tự tìm ra. Vì vậy sau mỗi lần làm thí nghiệm và qua quá trình quan sát, phát hiện ra kết quả tôi đều cho trẻ ghi lại vào bảng bằng các hình vẽ sau đó cùng thảo luận để đưa ra kết luận cuối cùng. Để các thí nghiệm của mình thành công tôi đã xây dựng kế hoạch phối kết hợp với phụ huynh qua việc tuyên truyền về chủ đề và nội dung các bài khám phá qua đó nhờ sự ủng hộ giúp đỡ của phụ huynh giúp trẻ chuẩn bị đồ dùng, nguyên vật liệu thực hành thí nghiệm, cung cấp cho trẻ một số vốn kiến thức để trẻ tự tin khi thực hiện các thí nghiệm bằng cách tạo cơ hội, môi trường cho trẻ khám phá khi ở nhà, ngòai đường, khi đi thăm quan, Khi trẻ khám phá và thử nghiệm với môi trường xung quanh, trẻ thu nhận các quá trình tư duy khoa học, hình thành các khái niệm và giải quyết các vấn đề, đồng thời trẻ cũng thu nhận được kiến thức vì vậy việc tạo môi trường thử nghiệm cho trẻ sẽ tạo nhiều cơ hội cho trẻ kiến tạo hiểu biết về các hiện tượng xung quanh. Trẻ còn nhỏ đã bắt đầu tìm cách sử dụng và gọi tên các đối tượng, bắt chước và sự tò mò làm cho trẻ thích thú hoạt động với đồ vật và các nguyên vật liệu bằng cách khác nhau. Giáo viên khuyến khích hứng thú tự nhiên đó và nuôi dưỡng tính tò mò, ham hiểu biết của trẻ bằng cách cung cấp nhiều đồ vật và 10
- nguyên liệu mới cho trẻ là điều kiện quan trọng để trẻ khám phá đạt hiệu quả cao nhất. Ngoài ra, giáo viên cũng cần tạo môi trường xã hội hỗ trợ cho hoạt động tìm tòi, khám phá và trải nghiệm của trẻ. c: Biện pháp 3: Cho trẻ khám phá các sự vật hiện tượng bằng các giác quan và qua các hoạt động Thông qua các thí nghiệm tự tay trẻ làm, đòi hỏi trẻ phải sử dụng tích cực các giác quan, chính vì vậy sẽ phát triển ở trẻ năng lực quan sát, khả năng phân tích so sánh, tổng hợp nhờ vậy khả năng cảm nhận của trẻ nhanh nhạy, chính xác, những biểu tượng, kết quả trẻ thu nhận được trở nên cụ thể, sinh động và hấp dẫn hơn. Để kích thích sự phát triển nhận thức của trẻ giáo viên cần tạo cơ hội và động cơ thúc đẩy trẻ tìm kiếm kiến thức, tạo cơ hội cho trẻ tìm hiểu các đồ vật và các nguyên vật liệu bằng cách sử dụng tất cả giác quan một cách thích hợp bên cạnh đó đặt ra các câu hỏi tạo sao điều đó xảy ra và những cái đó được thực hiện như thế nào để trẻ vừa được tự tay thao tác trên nhiều đồ dùng dụng cụ khi tiến hành những thí nghiệm lại vừa tự mình giải thích được một số hiện tượng xảy ra qua cảm nhận của chính mình. Trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi lĩnh hội khái niệm về đồ vật, sự vật hiện tượng qua thao tác bằng tay, quan sát và khám phá vì vậy cô giáo nên dành nhiều thời gian cho trẻ thử nghiệm. Có nhiều hoạt động giúp trẻ sử dụng các giác quan để khám phá về thế giới xung quanh. Trong khi chơi và hoạt động với các vật thật, đồ chơi, tranh ảnh, với các hình dạng, kích thước, màu sắc tôi thường sử dụng các trò chơi như “chiếc túi thần kì,“nóng - lạnh”, “sờ và đoán hình”, “điện thoại ống bơ”, “chìm và nổi”, “cái mũi thính”, “nam châm diệu kì”,, để trẻ khám phá bằng các giác quan như tay, tai, mắt, mũi,...để trẻ được thỏa sức khám phá bằng chính các giác quan của mình. Cho trẻ làm quen, khám phá khoa học thông qua các hoạt động như vui chơi, thăm quan, hoạt động có chủ đích, hoạt động ngòai trời với các trò chơi như cho trẻ chơi với nước, chơi với nam châm, pha màu nước, chơi với sỏi, cát, lá cây, giấy đều có thể đem lại những kinh nghiệm khoa học cho trẻ. VD: Khi tổ chức cho trẻ hoạt động ngoài trời, tôi cho trẻ nhặt lá cây, sỏi và cùng trao đổi với trẻ sẽ làm gì với chúng, sau đó cho trẻ đưa ra các ý kiến dự đoán điều gì sẽ xảy ra khi cho lá cây và sỏi vào bể nước, cho trẻ tự tay làm và rút ra nhận xét của mình. Hay khi tổ chức hoạt động có chủ đích như khám phá về tác dụng của nước tôi cùng trẻ chuẩn bị các đồ dùng dụng cụ đựng nước (chai lọ, cốc), quả cam, chanh, màu nước, muối sau đó cho trẻ thảo luận về tầm quan trọng của nước với đời sống. Phân nhóm trẻ thực hiện các thí nghiệm với nước: pha màu, 11
- pha nước cam- chanh Được trực tiếp làm thí nghiệm với các vật mà mình đang học quả là một điều thích thú đối với trẻ. Hoạt động lao động nhặt lá trên sân trường, tôi cho trẻ quan sát, khám phá về những chiếc lá khi trẻ nhặt và cùng trẻ thảo luận vì sao lá có màu vàng, màu xanh, vì sao mùa thu lá rụng nhiều Khi trẻ khám phá và thử nghiệm với môi trường xung quanh, trẻ thu nhận các quá trình tư duy khoa học, hình thành các khái niệm và giải quyết các vấn đề đồng thời trẻ cũng thu nhận được kiến thức. Vì vậy, cứ để cho trẻ được hoạt động, trải nghiệm, được thử - sai bằng chính các giác quan của mình qua các hoạt động và rồi trẻ sẽ tìm ra một kết quả là bài học bổ ích cho trẻ sau này. d: Biện pháp 4: Dành thời gian cho trẻ tự khám phá, trải nghiệm và chia sẻ, bày tỏ ý kiến của mình. Quan sát là hướng sự chú ý có mục đích rõ rệt vào đối tượng được quan sát. Khi trẻ quán sát trẻ sẽ học được nhiều hơn, qua quan sát trẻ phát hiện nhanh chóng, chính xác những đặc điểm quan trọng, chủ yếu, đặc biệt của sự vật hiện tượng vì vậy trẻ cần thời gian để quan sát. Giáo viên không nhất thiết phải dạy hay giải thích cho trẻ những kiến thức khoa học mà chủ yếu phải giúp trẻ suy nghĩ nhiều hơn về những gì chúng nhìn thấy và chúng đang làm, kích thích trẻ quan sát, xem xét, dự đoán, suy luận về các sự vật hiện tượng xung quanh và thảo luận, chia sẻ điều trẻ nhìn thấy, điều trẻ nghĩ hay còn băn khoăn. VD: Khi cho trẻ quan sát sự nảy mầm của cây, tôi đã dành thời gian cho trẻ quan sát tỉ mỉ từ khi gieo hạt xuống đất đến khi hạt mọc thành cây, thời gian ở đây không phải là một giờ hay một ngày mà thời gian được tính theo tháng, ngày nào cũng dành thời gian cho trẻ quan sát và phát hiện sự thay đổi của hạt. Hay khi ra hoạt động ngoài trời quan sát có chủ đích một đối tượng, một sự vật nào đó tôi đều hướng sự chú ý của trẻ vào đối tượng và dành thời gian nhất định 3- 5 phút cho trẻ quan sát, định hình để phát hiện ra điểm nổi bật của đối tượng hay cảm nhận về sự thay đổi của hiện tượng. Với hoạt động có chủ đích tôi giới thiệu cho trẻ về yêu cầu của bài học và gợi ý, hướng dẫn trẻ khi trẻ đã đưa ra ý tưởng trải nghiệm và tạo điều kiện cho trẻ thực hành trải nghiệm VD: Hoạt động “Khám phá về không khí?” tôi cho trẻ quan sát, làm thí nghiệm đốt nến trong cốc để trẻ nhận ra không khí làm cho ngọn nến cháy được và không có không khí thì ngọn nến sẽ tắt, hay thí nghiệm khám phá sự co giãn của không khí khi gặp lạnh- nóng... Qua quan sát, phân biệt, trẻ bắt đầu có kinh nghiệm phân loại các đối tượng nhờ phân biệt những điểm giống nhau và khác nhau, trẻ đi đến những quyết định của mình, khi đã tìm ra vấn đề mà trẻ trải nghiệm chúng thường muốn chia sẻ những gì chúng tìm thấy với cô và các bạn, để bày tỏ ý kiến của 12
- mình trẻ cần được khuyến khích đặt câu hỏi, sử dụng từ để diễn đạt những gì trẻ đang trông thấy. Giáo viên luôn luôn lắng nghe và quan sát để kịp thời đưa ra những ủng hộ hoặc gợi ý cho trẻ về những gì trẻ đang cố gắng hoặc mong muốn bày tỏ bằng lời nói về hành động. Tạo cơ hội cho trẻ thảo luận theo nhóm, để trẻ có thể đưa ra ý kiến của mình và mong muốn được các bạn chấp nhận. Đó cũng chính là cơ hội đề trẻ rèn luyện kĩ năng tự tin chia sẻ thông tin, kinh nghiệm và kĩ năng hợp tác làm việc theo nhóm là tiền đề cho việc hình thành nhân cách con người mới tự tin, năng động sau này. e: Biện pháp 5: Sử dụng hệ thống câu hỏi phù hợp giúp trẻ phát triển tư duy và khích lệ trẻ suy nghĩ về những gì trẻ nhìn thấy. Dựa vào những thông tin thu nhận được qua quan sát và thử nghiệm, trẻ đã có những suy luận về những điều xảy ra trong môi trường. Người lớn cần giúp trẻ làm những suy luận logic bằng cách khuyến khích trẻ xem xét những khía cạnh khác nhau của một sự việc hay tình huống nào đó. Khả năng suy luận chính xác của trẻ phụ thuộc vào những trải nghiệm và vốn kinh nghiệm sống. Cô giáo cần chú ý đến các hệ thống câu hỏi để định hướng sự quan sát của trẻ, giúp trẻ chú ý, tập trung vào những chi tiết nhỏ và nói về những gì trẻ nhìn thấy từ đó trẻ có sự phân loại, sắp xếp các đối tượng theo nhóm dựa vào các dấu hiệu đặc trưng. Khi trẻ đã quen thuộc với các thuộc tính của đối tượng trẻ sẽ có sự so sánh giữa các đối tượng đó với nhau, sau đó trẻ sẽ có những phỏng đoán khi trẻ khám phá thử nghiệm với các nguyên liệu. Điều này khuyến khích trẻ suy nghĩ về những gì có thể xảy ra. Trẻ luôn học được nhiều điều qua những trải nghiệm và những phỏng đoán được đúc rút ra từ những trải nghiệm của bản thân mặc dù những trải nghiệm đó có thể chưa đúng nhưng cô giáo có thể khuyến khích trẻ phỏng đoán bằng cách đưa ra những câu hỏi kích thích suy nghĩ như: Điều gì sẽ xảy ra? Vì sao điều đó xảy ra? Điều gì sẽ xảy ra tiếp theo? Nếu muốn điều đó không xảy ra phải làm gì? Có thể làm những gì để biết được sự thay đổi của sự vật hiện tượng nào đó? Trẻ 4- 5 tuổi bắt đầu làm quen với các thí nghiệm đơn giản và bước đầu có sự sáng tạo trong việc khám phá. Qua đó trẻ bắt đầu đưa ra những dự đoán dựa trên những trải nghiệm và sử dụng hình vẽ để trình bày và diễn đạt ý kiến. Nhưng với trẻ 5-6 tuổi, trẻ đã có thể tự tạo ra các thí nghiệm để xem điều gì sẽ xảy ra và tìm ra lời giải thích mặc dù những lời giải thích đó chưa có nhiều suy luận logic và trừu tượng. Trẻ thường dành nhiều thời gian và chú ý hơn vào các hoạt động mà trẻ thích, thích chơi theo nhóm và trao đổi với bạn về những ý kiến của mình. Trẻ thích vẽ và viết để ghi lại các sự việc. 13
- VD: Khi quan sát sự bốc hơi của nước, tôi cho trẻ quan sát cốc nước nóng và 1 tấm kính. Sau đó tôi đặt các câu hỏi như: + Điều gì xảy ra khi đặt tấm kính lên trên cốc nước nóng? + Vì sao trên mặt tấm kính lại có nước? + Nếu đặt tấm kính lên trên cốc nước lạnh điều gì sẽ xảy ra? + Nước bốc hơi khi nào? + Hãy kể về các hiện tượng nước bốc hơi trong tự nhiên mà con biết? VD: Thí nghiệm về sự đổi màu của lá khi cho vào cốc nước có dấm chua và cốc nước sạch. + Điều gì sẽ xảy ra khi cho chiếc lá vào 2 cốc nước? + Hãy quan sát và so sánh màu sắc của 2 chiếc lá? + Vì sao lá trong cốc nước dấm đổi màu? + Kết quả đó nói lên điều gì? Các hoạt động khám phá cùng với các câu hỏi đàm thoại sẽ giúp trẻ biết cách phân loại, tiếp thu các thông tin và hình thành nên các ý tưởng sáng tạo. Trong giai đoạn này quá trình tư duy của trẻ thay đổi từ ý nghĩ tượng trưng sang ý nghĩ trực giác, trẻ đã bước đầu có thể tổ chức, sắp xếp các đối tượng thao đặc điểm đặc trưng của chúng như màu sắc, kích thước, hình dạng. Đó chính là kết quả của sự tập trung chú ý ở trẻ. Khi quan sát trẻ hoạt động tôi thấy những biểu hiện của trẻ là rất tích cực, thích thú khi trẻ nhìn thấy các bước thực hiện cũng như kết quả mà trẻ thu nhận được. 2. Tính mới, tính sáng tạo: a. Tính mới: Tạo tâm lý hứng thú tích cực và cảm giác phấn khởi cho trẻ khi đến lớp từ đó tham gia tích cực các hoạt động khám phá khoa học. Có nhận thức đúng về tầm quan trọng của việc hướng dẫn trẻ trải nghiệm khám phá khoa học ngay từ những lúc còn nhỏ. Qua các nội dung biện pháp đã, đang thực hiện trong sáng kiến giúp nâng cao kiến thức, kĩ năng chuyên môn nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên, giúp giáo viên thiết kế các nội dung hướng dẫn trẻ khám phá khoa học đa dạng, phong phú, sáng tạo hơn nhằm thực hiện tốt các hoạt động giáo dục, góp phần giúp trẻ phát triển toàn diện nhân cách một cách tốt nhất trong thời đại mới. Đồng thời thực hiện tốt yêu cầu nhiệm vụ năm học. Phát huy tối đa hiệu quả phương pháp khám phá khoa học trong trường mầm non nói chung và độ tuổi 5-6 tuổi nói riêng, từ đó trẻ có tâm thế tốt khi hình thành đủ các kỹ năng sống tiếp xúc với khoa học tự tin bước vào các bậc học tiếp theo. 14
- b. Tính sáng tạo: Việc đào tạo nguồn nhân lực về khoa học công nghệ là việc làm rất cần thiết hiện nay, chứng tỏ nhiệm vụ vô cùng quan trọng của ngành giáo dục trong việc đào tạo ra những con người mới, con người của thời đại khoa học công nghệ. Bậc học mầm non là mắt xích đầu tiên trong thực hiện nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực “khoa học công nghệ”. Điều đó đã được thể hiện trong Chương trình giáo dục mầm non mới thông qua các hoạt động khám phá khoa học. Khi xây dựng và tổ chức hoạt động khám phá khoa học, giáo viên sẽ tạo cơ hội cho trẻ được tìm tòi, khám phá, trải nghiệm. Tổ chức hoạt động khám phá khoa học phù hợp sẽ giúp trẻ tìm ra cái mới, tiếp cận với những tri thức “tiền khoa học”, tích cực hoạt động nhận thức. 3: Phạm vi ảnh hưởng, khả năng áp dụng của sáng kiến: Sáng kiến áp dụng trong toàn ngành giáo dục nói chung, các trường lớp trong độ tuổi mầm non nói riêng. Áp dụng có hiệu quả cao với giáo viên và các độ tuổi. 4. Hiệu quả, lợi ích thu được từ sáng kiến Qua thời gian nghiên cứu tôi nhận thấy kết quả tác động của các biện pháp có ảnh hưởng rõ rệt đến các kĩ năng khám phá khoa học của trẻ và nhận thức của giáo viên về khám phá khoa học, từ đó hình thức tổ chức các hoạt động khám phá khoa học sáng tạo, phong phú hơn, trẻ tiếp thu một cách nhẹ nhàng thoải mái hơn và thực sự hứng thú tích cực trong các hoạt động khám phá khoa học, đồng thời đã hình thành thái độ sống khoa học cho trẻ trong lớp, trẻ đã tự mình tìm được phương pháp giải quyết vấn đề một cách nhanh nhạy hơn. Sau thời gian nghiên cứu thực hiện các biện pháp vào thực tế tổ chức các hoạt động khám phá tôi đã thu được những kết quả sau: a/ Đối với giáo viên: Bản thân tôi thấy tự tin hơn khi tổ chức các hoạt động khám phá khoa học, tiết học nhẹ nhàng hơn và đạt hiệu quả cao. Ngoài ra tôi đã thiết kế, áp dụng những trò chơi khám phá, những tình huống khoa học vào thực tế giảng dạy trẻ ở trường, lớp và được Ban giám hiệu nhà trường đánh giá cao. Tôi còn có thể hỗ trợ và cùng các bạn đồng nghiệp tạo ra một số thí nghiệm đơn giản từ những sự vật hiện tuợng gần gũi cho trẻ khám phá. b/ Đối với trẻ: Trẻ hứng thú, tích cực chủ động, sáng tạo tham gia các hoạt động trải nghiệm khám phá khoa học hơn. Trẻ tiếp thu kiến thức rất nhanh, hiệu quả các hoạt động khám phá tăng lên rõ rệt. 15
- Đa số trẻ trong lớp tôi mạnh dạn, tự tin khi thực hiện một số thao tác và kĩ năng thực hành các thí nghiệm khoa học. Khả năng quan sát, so sánh, phân loại, suy luận và phỏng đoán để tìm các mối liên hệ của trẻ phát triển hơn. Trẻ có khả năng phát hiện và giải quyết các vấn đề trong cuộc sống hàng ngày theo những cách khác nhau và biết diễn đạt những hiểu biết, suy nghĩ bằng lời nói, hành động, hình ảnh một cách tích cực. Trẻ đặt nhiều câu hỏi hơn về các hiện tượng tự nhiên xung quanh, tò mò ham hiểu biết nhiều hơn. Từ đó khơi gợi niềm đam mê khoa học cho trẻ làm nền tảng cho các môn khoa học sau này. Kết quả đó được thể hiện rõ nét minh chứng qua các biểu đồ sau: Biểu đồ 1: Mức độ hứng thú tích cực tham gia hoạt động khám phá khoa học của trẻ trước thực nghiệm ( áp dụng với số trẻ là 35 cháu) 16 14 12 Trẻ hứng thú tích cực tham 10 gia hoạt động khám phá 8 Trẻ có kĩ năng, mạnh dạn, tự 6 tin 4 Trẻ chủ động đặt câu hỏi và tìm câu trả lời 2 0 Tốt Khá Trung bình Yếu Biểu đồ 2: Mức độ hứng thú tích cực tham gia hoạt động khám phá khoa học của trẻ sau thực nghiệm. 18 16 14 Trẻ hứng thú tích cực tham 12 gia hoạt động khám phá 10 Trẻ có kĩ năng, mạnh dạn, 8 tự tin 6 Trẻ chủ động đặt câu hỏi và 4 tìm câu trả lời 2 0 Tốt Khá Trung bình Yếu Nhìn vào 2 biểu đồ trên cho tôi rút ra kết quả so sánh giữa 2 biểu đồ về các nội dung kảo sát trước và sau thực nghiệm: Bảng 1: Bảng so sánh và điều tra trước và sau khi sử dụng sáng kiến) (áp dụng trên 35 trẻ) 16
- NỘI Trẻ hứng thú tích cực tham gia Số trẻ có kĩ năng, mạnh dạn, tự Số trẻ thích đặt câu hỏi và DUNG các hoạt động KPKH tin khi thực hành trải nghiệm chủ động tìm câu trả lời KHẢO KPKH SÁT Tốt Khá TB Yếu Tốt Khá TB Yếu Tốt Khá TB Yếu (%) (%) (%) (%) (%) (%) (%) (%) (%) (%) (%) (%) Trước 8 16 9 2 5 11 12 7 6 9 15 5 thực 23% 46% 26% 5% 14% 32% 34% 20% 17% 26% 43% 14% nghiệm Sau 18 11 6 0 12 9 10 4 14 13 6 2 thực 51% 32% 17% 0 34% 26% 29% 11% 40% 38% 17% 5% nghiệm So sánh 28% 14% 9% 5% 20% 6% 5% 9% 23% 12% 26% 9% Như vậy kết quả cho thấy: Số trẻ hứng thú tích cực tham gia các hoạt động khám phá khoa học: Tốt tăng từ 23% đến 51%(tăng 28%); khá giảm từ 46% xuống 32%(giảm 14%); TB giảm từ 26% xuống 17%(giảm 9%); Yếu giảm từ 5% xuống còn 0%(giảm 5%). Số trẻ có kĩ năng, mạnh dạn, tự tin khi thực hành trải nghiệm khám phá khoa học: Tốt tăng từ 14% đến 34% (tăng 20%); Khá giảm từ 32% xuống 26%(giảm 6%); TB từ 34% xuống 29%(giảm 5%); Yếu từ 20% xuống còn 11%(giảm 9%). Số trẻ thích đặt câu hỏi và chủ động tìm câu trả lời về các sự vật hiện tượng khoa học: Tốt tăng từ 17% đến 40% (tăng 23%); Khá từ 26% tăng 38%(tăng 12%); TB giảm từ 43% xuống 17%(giảm 26%); Yếu giảm từ 14% xuống 5%(giảm 9%). Trẻ hứng thú tích cực tham gia vào các hoạt động khám phá khoa học và có kĩ năng thực hành trải nghiệm được phát huy tốt hơn nữa nếu mỗi chúng ta tiếp tục nghiên cứu và đưa ra các biện pháp khác, sáng tạo đảm bảo được mục đích chương trình dạy học theo đổi mới, vận dụng linh hoạt vào việc tổ chức các hoạt động khám phá khoa học cho trẻ một cách hợp lý, tạo hứng thú tích cực muốn tham gia các hoạt động và khơi gợi nuôi dưỡng tài năng khoa học cho trẻ. Bản thân tự tin hơn khi xây dựng và tổ chức các hoạt động khám phá khoa học, thường xuyên tổ chức các hoạt động khám phá khoa học với các hình thức tổ chức phong phú, đa dạng và thực sự phù hợp với nhu cầu, khả năng của trẻ. a/ Hiệu quả kinh tế Trẻ hứng thú, vui vẻ phấn khởi đến lớp tạo sự yên tâm, tin tưởng của phụ huynh đối với giáo viên và nhà trường từ đó yên tâm lao động sản xuất Các biện pháp đơn giản, thực tế và gần gũi giáo viên nào cũng có thể thực hiện được 17
- b/ Hiệu quả về mặt xã hội Tạo niềm tin của nhân dân, phụ huynh khi đưa trẻ đến trường lớp mầm non. Góp phần to lớn trong nhiệm vụ hình thành nền tảng nhân cách cho thế hệ tương lai của đất nước. Giúp cô có những hiểu biết hơn về những biện pháp khám phá khoa học cho trẻ, giúp trẻ phát triển hài hoà một cách mạnh dạn, tự tin. Trẻ chủ động tích cực, hứng thú tham gia các hoạt động của lớp và ngày càng thích đến lớp. c/. Giá trị làm lợi khác: Trong quá trình nghiên cứu, áp dụng vào thực thế các biện pháp đã nêu, trẻ lớp tôi phụ trách luôn vui vẻ, hoạt bát và hứng thú tích cực phấn khởi khi đến lớp, có kỹ năng thực hiện các hoạt động khám phá khoa học tốt, phụ huynh học sinh tin yêu, quan tâm và thường xuyên trao đổi với giáo viên, hỗ trợ giáo viên trong các hoạt động. Hải phòng, ngày 20 tháng 12 năm 2024 CƠ QUAN ĐƠN VỊ Tác giả sáng kiến ÁP DỤNG SÁNG KIẾN Nguyễn Thị Thúy Hằng Đồng tác giả sáng kiến Đào Thị Thanh Huệ 18
- PHỤ LỤC HÌNH ẢNH MINH HỌA 1. Hình ảnh tạo môi trường phong phú, hấp dẫn với các đồ dùng, đồ chơi, nguyên vật liệu cho trẻ hoạt động: 2. Trẻ cùng làm thí nghiệm về sự nẩy mầm của cây. 19
- 3. Trẻ cùng làm thí nghiệm về sự mọc rễ của cây và quan sát mọc rễ trong cốc nước, sự nảy nhánh của củ hành 20

